Ứng dụng phong thủy trong âm trạch

Trong thuật phong thủy, chọn đất có sinh khí để mai táng tổ tiên được coi là rất quan trọng. Trước hết vì đó là quan niệm sống gửi, thác về trong đạo Phật. Sau nữa âm phần có ảnh hưởng đến thế hệ sau rất lớn. Chôn cất không đúng cách có thể gây hậu họa cho nhiều đời.

Đến đây một câu hỏi nữa được đặt ra là tại sao việc chọn đất có sinh khí để mai táng tổ tiên lại có thể đem phúc lộc cho con cháu, tức là “táng tiên” lại có thể “ấm hậu”. Trong trước tác “Táng thư”, Quách Phác đã nêu luận điểm: “Khí cảm như ứng, quỷ phúc cập nhân”, có nghĩa là những vật đồng chất với nhau có quan hệ cảm ứng lẫn nhau.

Vì vậy, tổ tiên, cha mẹ và hậu duệ con cháu là đồng khí, là một chất, chúng có quan hệ cảm ứng với nhau. Cho nên “quỷ phúc cập nhân” nghĩa là tổ tiên mang lại phúc ấm cho con cháu.

Để lựa chọn huyệt tốt thì căn cứ vào các yếu tố sau:

– Căn cứ vào cung mệnh của người chết để chọn hướng cho âm trạch (Việc lựa chọn hướng cũng giống như cho dương trạch).

– Chọn vị trí huyệt: Huyệt tốt là phải hội tụ đủ 4 yếu tố “Tứ thần” trong âm phần, đó là: Thanh long, Chu tước, Bạch hổ, Huyền vũ. Vị trí âm phần nên ở giữa tứ thần đó theo cách: đầu gối vào Huyền vũ, chân đạp Chu tước, bên trái là Thanh long, bên hữu là Bạch hổ. Nếu trước mặt có sông chảy quanh thì càng tuyệt vời. Ở nơi đồng bằng thì hãy ngắm núi xa mà hình dung, cộng với chọn hướng.

– Vị trí huyệt mộ cần “Tàng phong Tụ khí”, nghĩa là phải tụ khí và không có dòng nước chảy qua.

Ngoài ra cần lựa chọn ngày giờ để táng. Ngày giờ phụ thuộc vào tuổi người chết, năm ngày giờ mất và ngày giờ thực tại.

Một số điều nên tránh:

– Chôn ở chỗ gần đường tàu, nhà máy có máy móc nặng rung động.

– Chôn ở chỗ gần cây cổ thụ

– Chôn ở chỗ mà trên đầu có ao, hồ, đường tàu, xa lộ.

– Chôn ở chỗ quanh năm ngập nước phèn, sình lầy.

– Chôn ở chỗ có mỏ khoáng chất.

– Chôn ở chỗ đồi núi giao nhau ở phía trước mặt.

– Chôn quay đầu xuống chỗ thấp, chân đạp núi.

– Chôn trùng huyệt hoặc chỗ đất đào lên có xương động vật…..

Phong thủy trong tính cung người chết, luận tốt xấu

Ngoài việc chọn đất, chọn hướng cho mồ mả thì Phong thủy cũng đề cập đến cung người chết phạm vào sẽ luận tốt xấu ra sao.

Để đơn giản hóa, người ta đưa ra Bàn tay tinh cung người chết (cung tử) như sau:

Cung tử là cung của người chết. Tìm cung người chết để biết tốt xấu vì người chết nhằm năm tốt hay xấu có ảnh hưởng đến con cháu người còn sống được hưng vượng hay bị suy vong.

Muốn tìm cung tử coi theo bàn tay mà tính

Cách đếm: Người chết năm ấy được bao nhiêu tuổi, cứ lấy số tuổi đó mà tính. Nữ khởi tại cung Khôn đếm theo chiều nghịch. Nam khởi tại cung Cấn đếm theo chiều thuận, Đại số và Tiểu số đều liên tiết, hết số chục tới số lẻ, tới tuổi của người chết coi nhằm cung nào, lấy cung đó mà tính tốt xấu.

Thí dụ: Người chết 62 tuổi, coi nam cung gì? nữ cung gì?

Cung nữ: Bấm tay tại cung Khôn (theo bàn tay trên) đếm 10, theo chiều ngịch, 20 tại cung Ly, 30 tại cung Tốn, 40 tại cung Chấn, 60 tại cung Khảm, 61 tại cung Càn, 62 tại cung Đoài. Bà 62 tuổi chết nhằm cung Đoài.

Cung nam: Bấm tay lên cung Cấn theo chiều thuận đếm: 10 tại Cấn, 20 tại Chấn, 30 tại Tốn, 40 tại Ly, 50 tại Khôn, 60 tại Đoài, 61 tại Càn, 62 tại Khảm. Ông 62 tuổi chết nhằm cung Khảm.

Muốn biết cung tử tốt hay xấu cho con cháu thì coi bài dưới đây, tên cung viết chữ thường là xấu, còn viết chữ IN HOA là tốt.

Càn ngộ hung thần gia chủ nguy (phạm hung thần)

KHẢM phùng vạn sự đắc giai kỳ (con cháu gặp may mắn)

CẤN cung an ổn bình thường sự (con cháu bình an)

CHẤN tích kim ngân lợi khả tri (con cháu giàu có)

Tốn ngộ quan tài tam mang một (động trong dòng họ, chết chóc)

Ly sanh khẩu thiệt, tử tận suy (thị phi, con cháu nghèo nan)

KHÔN ngộ quy nhơn, quan chức trọng (con cháu thăng quan, tiến chức)

Đoài quy tản tộc hữu trùng bi (gia tộc ly tán, chết chóc)

Dân gian Á Đông xưa rất quan tâm đến nghi thức an táng cho người vừa mới mất. Người xưa cho rằng người ruột thịt vừa mất có ảnh hưởng tốt, xấu tới những người thân cùng huyết thống đang sống. Do vậy, họ có nhiều nghi thức tế lễ, an táng cho người mới ra đi vào cõi vĩnh hằng. Một trong những nghi lễ quan trọng hàng đầu đó là tính xem tuổi, tháng, ngày, giờ của người mất có hợp với quy luật cuộc đời của “chính họ” hay không. Dựa vào tuổi của người mất và ngày, tháng, giờ mất của họ để tính xem: người đó có được “Nhập mộ” hay gặp phải “Thiên di”, “Trùng tang”.

– “Nhập mộ”: Là người mất ra đi và được nằm xuống vĩnh viễn, không còn vương vấn trần ai. Thể hiện sự an lành, yên nghỉ. Chỉ cần một “Nhập mộ” của tuổi hoặc tháng, ngày giờ là được coi là tốt.

– “Thiên di”: Là dấu hiệu ra đi do “Trời định”, người mất lúc đó được trời đưa đi. Sự ra đi này nằm ngoài mong muốn của người mất, nhưng cũng là hợp với lẽ trời.

– “Trùng tang”: Là dấu hiệu ra đi không hợp số phận, không dứt khoát, có nhiều ảnh hưởng tới người ở lại. Theo quan niệm xưa, nếu gặp phải trùng tang mà không có “Nhập mộ” nào thì cần phải mời người có kinh nghiệm làm lễ “Trấn trùng tang”.

Cách tính trùng tang phổ biến như sau:

Dùng 12 cung địa chi trên bàn tay để tính. Nam khởi từ Dần tính theo chiều thuận, Nữ khởi từ Thân tính theo chiều nghịch

– Bắt đầu là 10 tuổi, cung tiếp theo là 20 tuổi, … tính đến tuổi chẵn của tuổi người mất. Sau đó cung tiếp theo là tuổi lẻ tính đến tuổi của người mất, gặp ở cung nào thì tính là cung tuổi.

– Từ cung tuổi, tính cung tiếp theo là tháng 1, tính lần lượt đến tháng mất, gặp cung nào thì cung đó là cung tháng.

– Từ cung tháng, tính cung tiếp theo là ngày 1, tính lần lượt đến ngày mất, gặp cung nào thì tính cung đó là cung ngày.

– Từ cung ngày, tính cung tiếp theo là giờ Tý, tính lần lượt đến giờ mất, gặp cung nào thì tính cung đó là cung giờ.

Nhận xét: Nếu các cung tuổi, tháng, ngày, giờ gặp các cung:

– Dần – Thân – Tị – Hợi: là gặp cung Trùng tang

– Tý – Ngọ – Mão – Dậu: là gặp cung Thiên di

– Thìn – Tuất – Sửu – Mùi: là gặp cung Nhập mộ.

Chỉ cần gặp được một cung Nhập mộ là coi như yên lành, không cần phải làm lẽ trấn trùng tang.

Ví dụ: Tính cho cụ ông mất giờ Tý, ngày 3 tháng 3, thọ 83 tuổi. Cụ ông Khởi từ cung Dần tính chiều thuận: 10 tuổi ở Dần, 20 tuổi ở Mão, 30 tuổi ở Thìn… 80 tuổi ở Dậu, đến tuổi lẻ 81 ở Tuất, 82 ở Hợi, 83 ở Tí. Vậy cung tuổi là cung Tý là cung Thiên di. Tính tiếp tháng 1 là Sửu, tháng 2 ở Dần, tháng 3 ở Mão, vậy cung tháng là Mão là cung Thiên di. Tính ngày mồng 1 là Thìn, ngày mồng 2 là Tị, mồng 3 là Ngọ, vậy cung ngày là Ngọ gặp Thiên di. Tính tiếp cho giờ, giờ tý tại Mùi, vậy cung giờ là cung Mùi được cung Nhập mộ. Như vậy cụ ông có 3 cung thiên di, 1 cung nhập mộ. Vậy là hợp với lẽ trời và đất.

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *