TỨ TƯỢNG NHỊ THẬP BÁT TÚ

1. TỨ TƯỢNG NHỊ THẬP BÁT TÚ

Song đèn đêm toi, loài người nguyên thủy lại hiện ra một cảm giác lo sợ. Bơi vì họ không có cách gì đẻ chinh phục đêm tối, không có cách gì đè chinh phục không gian đêm xa xăm.

Sự phát minh lưa đã chiêu sáng tất cả mọi thứ quanh mình, nhưng vẫn không có cách gì nhìn thảy rõ tát cả mọi thứ trong màn đèm đen tôi. Sau khi quan sát vô sò lán, người ta đà phát hiện ra nhừng điêu ki diệu của không gian ban đèm , thành thuộc quy luật biên đòi của các vì sao.

Mặt trăng, vì sao lớn nhảt; sáng nhảt trên bâu trời ban đèm. Đưong nhiên đây lả kết luận trong tâm mắt của người nguyên thủy, luôn lả vừa tròn vừa khuyêt. Người xưa phát hiện mặt trảng tròn khuyêt có quy luật nhảt định với bòn mùa : Mặt trảng cứ tròn khuyết 12 lân thì vừa đúng là bôn mùa. Như vậy, khái niệm của năm đà sản sinh và được quy đinh.

Sách “Thư. Nghiêu điển” nói: “Khâm nhược hiệu thiên, lịch tượng nhật nguyệt tinh thần”. “Lịch” ỡ đày chi clúnh là lịch pháp. Nghĩa gòc của “lịch” là ghi sò. “Tinh” lả hãng tinh nhị thập bát tú. “Thản” là Mặt trời và Mặt trảng gặp nhau. Từ tư liệu này ỡ trên có thè nhìn thây thời đại Yua Nghiêu, các nhà hiên triết Trung Quôc đả biẻt quan sát tinh tượng đẻ báo giờ.

Lích pháp trước thời Nghiêu lả Hóa lịch. Hóa là Đại Hôa: tức hai sao Tâm, Tú. vẻ sau lại phát ĩriẻn thành lịch Thái dương (lịch Mặt Trời). Trước thời này không có khái niệm “thiên” (ười), chì đèn thời Nghiêu mới có, người ta đã học được “lịch tượng nhật nguyệt tinh thần, kinh thụ nhân thời” mới bãt đâu nhận thức “thiên”, nhận thức thời gian. Đây cũng chính là sự giải thích tôĩ nhát vì sao dùng “Thiên thời”.

Lịch pháp Trung Quòc dùng Thiên can Địa chi đẻ biêu hiện. Thiên can biêu hiện ban ngày sáng sủa của Dương, Địa chi biêu hiện đêm tòi của Ảm. Ban ngày và ban đèm củng vừa đúng là một ngày, cho nên mói có Thiên can, Đìa chi.

Theo truyẻn thuyết xưa, Thiên can Địa chi lả do Hiên Viên thời Thái cò lệnh cho họ Đại Náo tạo ra. Mười Thiên can đại biêu ngày, mười hai Địa chi đại biêu tháng. Người đương thời chưa có khái niệm sò trừu tượng, cho nên đảnh dùng một thiên can đại biêu một ngày. Thoạt đàu, can chi phôi họp là dùng đẻ biêu thị “năm”. Sáu mươi nãm gọi là một hoa giáp, sau sáu mươi năm lại lập lại tính toán.

Mặc dủ loại lịch pháp này rất vụng vé, nhưng CUÒ1 cùng nó dà hoàn thành sự tiến bộ từ sao đèn lịch, từ tượng đèn sò. Cản phải nói đày là có ý nghĩa Thòi đại.

Người Trung Quòc xưa không nliừng cho răng thiên thời liên quan chặt chẽ với tinh tượng y không thê tách rời, mà còn cho răng thiến thời tôt xấu chiu ảnh hướng của tinh tượng trên bâu trời, nhất là các nhân vật lớn của giai cảp thòng trị đại biêu ý chí của trời và sự kiện lòn xuất hiện đêu có liên quan với tinh tượng, điêu này đà này sinh ra thuật chiêm tinh.

Tư liệu sữ cò ghi chép : Họ Hiên Viên thời Thái cò đà cữ người chuyến chiêm tinh gọi là “Tinh quan”. Sách “Chu lễ” có một đoạn vãn chuyên bàn về thuật chiêm tinh như sau :

“Họ Bảo Kinh nam chức Chưởng Thiên tinh đê ghi chép sự biên động của Mặt trời, Mặt trảng và các vì sao, đè quan sát sự biến đòi trong thiên hạ phán đoán cát hung. Dùng các sao đẻ phán biệt các vùng đát của cửu châu (Trung Quòc), các khu \-ực được phân cảp đêu có phán thành sao đè quan sát các điẻm lành dữ”.

Thuật chiêm tinh bãt nguồn từ sự sùng bái các sao của các bộ lạc nguyên thủy. Khi con người thời hoang sơ ngửa đâu lên nhìn bàu trời ban đêm, nhỏng chòm sao sáng lâp lành chứa

đựng đày nhừng điêu thán bí đà thu hút nhiệt tình, lòng hiẻu kì của loài người một cách sâu sắc. Các vì sao trên tròi vừa nhiều lại có thẻ phát sinh biển đôi. Quan sát láu dài, CUÒ1 cùng cũng có thu hoạch, người ta phát hiện có tinh tượng có liên quan với nhân sự. Ví như vẻ hàng hải và trông trọt đêu có thê xem một loại tinh tượng nào đó đẻ quyết đinh. Các nhả hiền triết xưa cho răng : Sao Ngưu Lang và sao Chức Nừ chinh lả có liên quan tới việc lao động trông trọt. Sao Cơ và sao Tát có liên quan với mưa gió.

Có một điêu khá hứng thú là trong khi con Rông cháu Rông trên mảnh đât hoàng thô nghiên cứu đòi vói tinh tượng, thì tô tiên của người châu Au ỡ phía kia của quả đảt cũng đang chăm chú nhìn lẻn bàu tròi đẻ quan sát. Đảy không phải là việc ngầu nhiên.

Người cô Hi Lạp xem các sao Thât diệu của cung Kim ngưu làm “các sao tiêu chuản” của hảng hải, chi có chờ khi nó xuất hiện trên bâu trời thì mới dám kéo buồm lẻn đè chạy tàu thuyên. ĐÒI với sự xuảt hiện Sao Chòi và Sao bảng, người phương Đông vả người phương Tây đêu biéu hiện hoảng sợ sâu sãc và noi lo ngại tột độ. Họ cho răng đày là điềm báo trước tai hoạ sáp ập đen.

Trong lịch sử ò nước ta, các triẻu đại đẻu có quan chức chuyên quan sát tinh tượng, như các chức Tinh công, Khâm thiên giám. Họ “Tìm tòi và nhận biêt sự gặp nhau của Ngũ tinh, Nhật (Mặt trời), Nguyệt (Mặt trăng), tai nạn xấu, diêm tot, trong thuật nảy đêu xuảt hiện, đày là thuật đoán biêt mệnh của Thánh nhân (sách “Hán thư. Nghệ văn chi”).

Tinh hoc (bói sao) dự đoán cát hung, chi có thẻ giớị hạn ơ nhân vật lớn, sự kiện lớn của giai cáp thông trị, còn người dán bình thường thì không thể dùng. Cho nèn mọi quyêt sách lớn và biện pháp thực thi vê chính trị, quản sự trong lịch sư đêu phải xem tinh tượng. Như Học giả Vương Sung thời Hậu Hán đà nói “Quòc mệnh có liên hệ với các sao. Các sao cát hung, nước có phúc họa, các sao chuyên dời, người có hưng suy”.

Sách “Tả truyện” đà từng ghi chép một cảu chuyện như sau : Thời nước Ngô tản còng nước Việt, nhà Tinh bòc Sư Mặc bèn đoán, nói : không đây 40 năm vượt nó chi có nước Ngô ; nước Việt được Tuẻ tinh mà Ngô đánh nó thì ãt phải nhận lảy việc hung. Ong nói Tuê tmh ơ nước Việt, quôc vận của nước Việt sẽ có thê hưng vượng, nước Ngô lại đèn đánh nước Việt, tảt nhiên phải tự nhận lấy tai họa đó. Vê sau quả nhiên đà ứng nghiêm lời đoán của ông’.

Thơi Hậu Hán, nhả Hán cử hai sứ giả vào đàt Thục, viên lại Quán dịch là Lý Lân đã dự biêt trước. BỠ1 vì hai sứ tinh là Thiên ảt và Thái ảt ơ trên trời đêu phản dă vẻ phai ích Châu.

Theo người nguyên thủy, trên tròi bủa giảng đây sao, trên mặt đảt cũng bủa giảng đây người. Giữa sao và người có mòi quan hệ kì diệu, sao và người lả có thẻ biên đôi với nhau.

Tiêu thuyết cò điên ỡ nước ta và chuyện Thán thoại cò Hi Lạp đêu phản ánh quan niệm này.

Quan niệm nảy đã hình thành tư tướng triết học “Thiên nhản tương ứng” của Trung Quòc, y đã xuyên suòt toàn bộ nền vãn hóa cò đại Trung Quòc. Thực tê “Kinh Dịch” cũng lả xảy dụng trên cơ sơ nảy.

Các nhà hiền triẻt Trung Quòc đă cùng khảo sát thời gian và các sao ngang nhau. Thiên thời chính là thiên tượng hoặc tinh tượng. Gọi “Thời thán.” chính lả chi thời gian vả tinh tượng xuất hiện trong khoảng thời gian này. Từ đó ta có thê nhận ra sự trọng thị của các nhả hiền triết Trung Quòc đòi với tinh tượng.

Từ trong tiếu thuyết cô điên Trung Quòc, chúng ta có thè nhìn thây, yêu cảu đòi với tướng soái thời xưa là “Trên phải biẻt thiên văn, dưới phải tinh thông đìa lí”. Gia Cát Lượng thời Tam quòc chính lả tinh thông thuật Tinh bòc. Trước trận đại chiên Xích Bích ông đã từng có hai việc làm chân động lòng người, đó lả việc dùng thuyên cỏ mượn tên và mượn gió đòng. Trên thực tẻ chính là ông từ tinh tượng biet được ngày hôm đó sẽ có sương mù và gió, Còn có một

lán ông nhìn thây phương Đòng có một ngòi sao lớn rơi xuòng, liên biẻt Quan Vũ chán giừ Kinh Châu đă mất

I Các sao chinh và hàm ý của nó

Đè thuận tiện cho việc nhận sao vả quan sát sao, các nhà hiên triẻt Trung Quôc đã xếp nhiêu ngôi hãng tinh lại thành một nhóm, moi nhóm dùng một sự vật trên mặt đát đẻ đặt tên, nhóm này sẽ gọi là một tinh quan. Đèn thòi Tam quòc, nước Ngô có một Thái Sử lệnh là Tran Trác đă tòng hợp các tri thức của nhừng người trước lại biên thành một tinh đô gôm 283 quan 1464 ngòi hãng tinh.

Muôn nhận biẻt thuật chiêm tinh của Trung Quôc, trước tiên cản phải có một sô tim hiếu đòi với Tam viên, Tứ tượng, Ngũ vĩ. That diệu, Nhị thập bát tú

Tữ vi, Thái vi và Thiên thị cùng là tinh tượng, các tinh sĩ và sữ quan thường xuyên quan sát. Đèn thời Tòng, sách “Thòng chí” cùa Trinh Tiêu mới bãt đâu gọi Tư vi, Thái vi, Thiên thị là Tam viên. Tam viên là chi ba khu vực sao, Thái vi là thượng viên có 10 ngòi sao, Tữ vi lả trung viên có 15 ngôi sao, Thiên thị lả hạ viên có 25 ngòi sao. Tữ vi viên là lẩy sao Bãc đàu làm trung tàm tập họp 7 sao Bãc đàu vả các sao xung quanh nó tạo thảnh một khu vực sao ; Thái vi viên là chi khu vực sao bao gôm từ Tữ vi viên vẻ phía nam và các sao Trương, Dực, Chân vè phía bảc ; Thiên thị viên lả chi khu vục sao gôm từ Thái vi viên về phía Tây vả chồ giao hội của 7 sao Thanh Long ỡ phương Đòng và 7 sao Huyên Vũ ỡ phương Bắc về phía Bắc.

Các tinh sĩ đem Tam viên đôi ứng lại với người đòi vả quy định nội dung nhản sự đối ứng với Tam viên, Tữ vi viên là đòi ứng với đẻ vương ỡ nhân gian, là để tinh ỡ chồ đó. Minh Lang Anh ưong sách “That tu loại cảo. Thiên vãn loại” đầ giải thích “Tử vi viên” như sau : “Tủ là

màu đõ màu đen cùng hợp lại mà thành. Thiên viên gọi là Tữ vi là chọn tượng hai màu nước và lữa giao nhau. Nước và lứa giao nhau, vạn vật dùng nó đẻ sông. Vạn vật dùng nó đẻ sinh sống là chúa tể của muôn loài. Vi thè Thiên viên có Thiên khu tinh và Thiên hoàng để tinh. Cho nên nơi Thiên tử ỡ cùng gọi là Tữ thán (chôn thảm nghiêm). Còn Vi lây nghía của tinh vi. BỠ1 vi đẻ tinh nẩm ờ Từ vi viên, cho nên Tữ vi viên nam ỡ trung khu của các vì sao ỡ trên trời đối ứng vói nhân gian. Đe vương chính là chúa tẻ của nhân gian. Thái vi viên đôi ứng là Tam còng cữu khanh, Thiên thị viên đòi ứng là mười hai phong quòc thời Tây Chu (Tản, Sơ, Tẻ, Lồ, Trịnh, Tán, Yên, Tràn, Thái, Tào, Vệ, Tông). Đem Tam viên đôi ứng lại với nhân sự, rồ ràng lả lấy người đời tướng tượng thiên thè, ngược lại lại dùng quan sát tinh tượng trên trời đòi chiêu với người đòi.

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *