Tính trực nhật tinh là gì?

1. Tính lưu niên tinh như thế nào?

Có một bài ca quyết dùng để tính lưu niên tinh – Niên thượng khởi tử bạch ca: Thượng nguyên Giáp Tý Nhất Bạch cầu, Trung nguyên Tứ Lục trung cung lưu, Hạ nguyên Thất Xích cư trung vị, Trục niên nghịch hành thị chân tông. Có nghĩa là: Lưu niên tinh của năm thứ nhất Thượng nguyên là sao Nhất Bạch, lưu niên tinh của năm thứ nhất Trung nguyên Ịà sao Tứ Lục, Lưu niên tinh của năm thứ nhất Hạ nguyên là sao Thất Xích; lưu niên tinh sau năm thứ nhất các nguyên chỉ cần lần lượt đếm ngược là có thể suy ra.

Thí dụ, muốn tính lưu niên tinh của năm 1994, trước hết phải biết năm 1994 thuộc Hạ nguyên, Lưu niên tinh của năm thứ nhất Hạ nguyên (năm 1984) là sao Thất Xích, như vậy năm 1985 là sao Lục Bạch, năm 1986 là sao Ngũ Hoàng, năm 1987 là sao Tứ Lục,năm 1988 là sao Tam Bích… cứ thế suy tiếp thì biết lưu niên tiĩ^ của năm 1994 là sao Lục Bạch.Đặt lưu niên tinh vào cung giữa là biết được phương vị phân bô” các sao năm đó.

2. Tính lưu nguyệt tỉnh như thế nào?

Ca quyết dùng để tính lưu nguyệt tinh — Nguyệt thượng khởi tử bạch ca: Tý Ngọ Mão Dậu Bát Bạch cung, Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng trung, Dần Thân Tỵ Hợi Nhị Hắc vị, Chính nguyệt nghịch số thị vỉ tông. Có nghĩa là: Tính lưu nguyệt tinh trước hết phải tìm được địa chi năm đó, theo địa chi là có thể biết được lưu nguyệt tinh của tháng Giêng năm đó, các tháng sau chỉ cần đếm ngược theo thứ tự là suy ra.

Thí dụ, muôn tính lưu nguyệt tinh của tháng Mười hai năm 2009, trước hết phải biết năm 2009 là năm Kỷ Sửu, địa chi của nó là Sửu, căn cứ “Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng trung”, có thể biết lưu nguyệt tinh tháng Giêng âm lịch năm đó là sao Ngũ Hoàng, tháng Hai là sao Tứ Lục, tháng Ba là sao Tam Bích…, lưu nguyệt tinh của tháng Mười hai là sao Tam Bích.

Đặt lưu nguyệt tinh vào cung giữa là biết được phương vị phân bố của các sao tháng đó. Ệẩ     Ị

3. Tính trực nhật tinh như thế nào?

Để tính trực nhật tinh cũng có ca quyết ^ Nhật thượng khởi tử bạch ca: Nhật gia tử bựch bất nan cầu, nhị thập tứ khí lục cung châu, Đông chí Vũ thuỳ cập Cốc vũ, Dương thuận nhất thất tứ trung du, Hạ chí Xử thử Sương giáng hậu, cửu tam lục tinh nghịch hành cầu. Điểm khác biệt so với cách tính lưu niên tinh và lưu nguvệt tinh là, tính trực nhật tinh cần chia một năm thành hai phần, sau Đông chí thì đếm xuôi, sau Hạ chí thì đếm ngược. Tức là trực nhật tinh của ngày Giáp Tý sau Đông chí là sao Nhât Bạch, ngày Giáp Tý sau Vũ thuỷ là sao Thất Xích, ngày Giáp Tý sau Cốc vũ là sao Tứ Lục, tính trực nhật tinh sau ba tiết khí này thì cần đếm xuôi; trực nhật tinh của ngày Giáp Tý sau Hạ chi là sao Cửu Tử, ngày Giáp Tý sau

Xử thử là sao Tam Bích, ngày Giáp Tý sau Sương giáng là sao Lục Bạch, tính trực nhật tinh sau ba tiết khí này cần đếm ngược.

Thí dụ, trực nhật tinh của ngày Giáp Tý thứ nhất sau tiết Vũ thuỷ là sao Nhất Bạch, như vậy trực nhật tinh của ngày Ất Sửu tiếp đó là sao Nhị Hắc, ngày Bính Dần là sao Tam Bích… Hay như trực nhật tinh của ngày Giáp Tý thứ nhất sau Hạ chí là sao Cửu Tử, trực nhật tinh của ngày Ẩt Sửu tiếp đó là sao Bát Bạch, ngày Bính Dần sau đó là sao Thất Xích

Bình luận trên Facebook