Thuật Lục Nhâm

1.  Thuật Lục Nhâm

Doanh trại đóng ỡ phương chính Đòng, quân mà đêu dùng cờ xanh, giáp xanh, dâm ngựa xanh, trên theo sao Bảc đâu Tham Lang trân trại, ba ngày Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Mậu Ngọ ứng với Hưu mòn cán phải xuất quản ra trận. Chính Bãc trên là sao Yãn Khúc, chỉnh Nam trên là sao Liêm Trực ứng cứu theo nguyên lí tương sinh. Chính Tây phương, cờ trắng, giáp trảng ngựa trăng, trên theo sao Bãc Đàu Phá quản tràn trại, Quý Mào 3 ngày, Kỉ Mào 3 ngày ứng với Hưu mòn, trên phương Đông Bãc sao Cự Môn, trên phương chính Bãc sao Yãn Khúc ứng cửu. Phương chính Bãc cờ đen, giáp đen, ngựa đen, trên theo sao Bãc Đảu Yãn Khúc trân trại, Giáp Tý 3 ngày, Mậu Tý 3 ngày. Nhảm Tý 3 ngày ứng Hưu môn, trên chính Đòng phương sao Tham Lang, trên chính Tây phương sao Phá Quản ứng cứu. Chính Nam phương cờ đõ, giáp đỏ, ngựa đỏ, trên theo sao Bẩc Đau Liêm Trực trấn trại, Át Dậu 3 ngày, Ki Dậu 3 ngày ứng Hưu mòn. Trên hướng Đông Bãc sao Cự Mòn, trên chính Đòng phương sao Tham Lang ứng cứu. Phương Tây Bãc cờ, giáp vả ngựa đẻu màu đen trảng xen nhau, trên theo sao Bãc Đâu Vũ Khúc trân trại, Canh Ti 3 ngày, Binh Ti 3 ngày ứng với Hưu môn. Trên phương Tây Nam sao Lộc Tòn và trên phương Đòng Bãc sao Cự Môn ứng cứu. Phương Đòng Bãc cờ, giáp và ngựa đêu màu đen xanh xen nhau, trên theo sao Bãc Đàu Cự Mòn trân trại, Bính Ngọ 3 ngày. Nhảm Ngọ 3 ngày ứng với Hưu mòn, trên phương Tày Bảc sao Vũ Khúc, trên phương chinh Nam sao Liêm Trực ứng cứu. Phương Đòng Nam, cờ giáp và ngựa đêu là xanh đõ xen nhau, trên theo hai sao Bãc đàu Phụ, Bật tràn trại, Quý Dậu 3 ngày, Tản Dậu 3 ngày ứng Hưu môn, trên chính Bãc phương sao Yãn Khúc, trên chinh Nam sao Liêm Trực ứng cứu. Tày Nam phương cờ, giáp và ngựa đêu là màu trảng đỏ xen nhau, trên theo sao Bãc Đảu Lộc Tòn tràn trại, Tán Mão, Ất Măo, Đinh Mào, 3 ngày ứng Hưu môn. Trên phương Tày Bấc sao Vũ Khúc, trên Đòng Bãc sao Cự Môn ứng cứu. Trung ương là chủ soái, cờ giáp và ngựa đêu màu vàng, trên theo Bãc cực Tủ vi viên trân Trung cung. Bên ngoài “Bát môn trận”, phía Đông Nam có một cánh quản đội ngũ đêu mang màu đõ vàng xen nhau, trên theo Thái Vi viên ứng cứu bòn cửa : chinh Đòng, chính Nam, Đông Nam và Tây Nam. Phía Tây Bãc có một cánh quản đội ngù đêu mang theo màu đen vàng xen nhau, trên theo Thiên Thị viên đẻ ngoại ứng bòn cửa : chinh Tây, chính Bãc, Tây – Bãc, Đòng – Bãc. Một trận pháp như thế đã làm cho chủ soái của Chu Nguyên Chương là Từ Đạt phải đau đâu nhức óc, đêm nãm mơ gặp Thành Hoàng Cô Tò nói : “Trận nảy tuy là có lí, chảng qua là dùng Bãc đáu cữu tinh và tám phương sinh khấc kẻt hợp với độn giáp của Hưu, Sinh. Thương, Đo, Canh, Tử, Kinh. Khai mả thòi. Nguyên soái chi cán từ ngnyèn li khãc chẻ, chia quản ra làm tám cảnh tiến vào đánh, ông ta tất nhiên ứng cứu không kịp, nguyên soái nèn dùng nguyên li Thái cực Lường nghi đẻ kiêm chẻ nó”. Tử Đạt đã lảm theo kẻ đó, quả nhiên vừa đánh đà thảng (xem kì trong sách “Anh hệt truyện”). “Bát mòn trận pháp” tuy là huyên bí, nhưng chi cản tình thòng nguyên lí độn Giáp, phán biệt tướng ảm dương ngũ hành thì vẫn phá nó không có gì khỏ cả.

Từ đó ta thấy “Ki Mòn độn giáp” là phương pháp sáng tạo thời cơ có lợi, không chè phương vị có lợi, đè đạt đèn mục đích thảnh công.

Thời xưa, “Kì Môn độn giáp” chủ yêu ứng dụng vào việc đánh trận vả bô trí trận (giàn trận). BỠ1 vì vận dụng thuật Kì Mòn độn giáp có thè dự đoán, tứih toán được “kliãc ứng” và thời gian tác chiến.

Theo truyền thuyết, Trương Lương thời Hán rảt tinh thòng “Kì Mòn độn giáp”. Gia Cát Lượng và Lưu Bá Ôn cùng không ai không như vậy. Cho nên, Ki Mòn độn giáp từ trước đèn nay đêu được xem lả thuật phò tá quản vương, có liên quan đèn an nguy của quòc gia và thái binh của thiên hạ. Do đó nên gọi là “học thuyết của đẻ vương”.

Trong xà hội hiện đại, “Kì Mòn độn giáp” cũng có thẻ dùng vào các mặt. Xă hội đương đại tức đà ĩrỡ thảnh nơi đẻ các ngành, các nhản sĩ các hàng cạnh tranh. Ngoài việc dựa vào thực

lực bản thản; nhân tô của thiên thời cũng vỏ cùng quan trọng.

So sánh với “Kinh Dịch”, việc tìm tòi của “Kì Mòn độn giáp” đòi với thiên thời càng trực tiếp rõ ràng, đòng thời còn biêu hiện một tư thái tích cực tiến thủ. Trên thực tể, tảt cả mọi cái đêu đang trong biến đỏi, cũng có nghĩa lả đang tranh thủ. Không ngửng tranh thủ, tức không thẻ vứt bơ thời cơ có lợi.

Người xưa nói : “Cơ hội không thê mât, thời gian không thẻ quay trơ lại”. Sự cò găng, của thuật Kì Môn độn giáp, tức ờ cho không làm cho co hội bị mât. Hàng ngàn năm nay, thuật Kì môn độn giáp luôn luôn lưu truyên mà không dứt, đang biêu hiện khát vọng của con người đỏi với thảnh công, mong đợi đòi với thiên thời.

Neu mười Thiên can phôi hợp vói mười hai Đìa chi dùng đẻ ghi nãm, thi 60 nãm lả một vòng chu ki, gọi là Lục thập Giáp Tí. Trong một Giáp Tí có sáu Giáp, sáu Ất,… sáu Nhảm (tức Lục Nhảm), sáu Quý. Lục Nhảm là Nhảm Thán, Nhảm Ngọ, Nhám Thìn, Nhảm Dân, Nhảm Tí, Nhảm Tuảt. Đáy vòn chi là một loại tò họp tự nhiên có quy luật, không có chút liên quan gì với việc lảnh dừ của nhân sự và tôt xấu của thòi gian. Nhưng, người xưa lại đem nó biên thành một thuật chiêm bòc, họ đem thuật Lục Nhám phân thành 64 khóa chẻ thảnh Thiên bàn và Địa bản. Trên Thiên bàn có khắc 10 Thiên can, trên Đìa bản có khắc 12 Đìa chi, đem Thiên bàn đặt chòng lèn Địa bản, khi chẻ đinh khóa, quay Thiên bàn đợi sau khi nó dừng lại òn định xem Thiên bản và Địa bàn được can chi và thời thán, sau đó dựa vảo đè xem cát hung. Người xưa cho rãng thuật Lục Nhảm chiêm nghiệm cát hung rảt linh nghiệm, vì thè lại gọi thuật Lục Nhảm là Lục Nhâm thán khóa.

Thuật Lục Nhảm xuất hiện là một loại thuật chiêm bòc theo tương truyền bãt đâu từ Hoàng đè, nhưng các thời ghi chép không thòng nhất. Sách “Quý tị loại cảo” quyên 10 của Du Chứih

Nhiếp đời Thanh có đoạn vãn “Lục Nhảm cò thức khảo” đă khảo cứu ti mỉ Lục Nhảm dạng cô qua các thời đại, viết :

Việc khởi đàu của thuật Lục Nhám theo sách “Đạo tàng” nói từ Hoảng đe, có tên là Lục Nhảm, chê thảng như thần. Sách “Thái dương ảm kinh” nói : Dạng theo Huyên Nữ có tên là “Lục Nhám thức”. Huyên Nừ tạo ra chủ yếu bãt đàu từ vạn vật ỡ phuơng Bãc, vì Nhám lả chủ Giáp nên gọi lả Lục Nhảm. Sách ‘Vũ Kinh tông yểu” nói : Thuyêt Lục Nhảm, sách “Đại dien số” gọi Thiên Nhất sinh Thủy, bãt đáu ỡ phương Bãc. Sách “Thuyết văn” của Hứa Thận nói là Thủy, cũng đúng. Sò sinh lả một, nhưng sô tạo thành lả năm, lấy sò của Thủy phôi họp với nó trơ thành Lục Nhám. Người thời Đường, Tòng có hai thuyết. “Lục Nhảm đại chiêm” của Chúc Tiết nói : Sách phương thuật của Chu Quan Thệ biên tập tức Nhảm bản. Theo vãn kiện hiện nay Nhảm bàn không có 28 sò. Thuyết của Chúc Tiết át hãn sự quanh co. Thuật Lục Nhâm chủ Bãc phương là âm. Sách ‘Bạch Hô thông” nói : Hợi, bãt đàu của ảm. Thêm nừa, vị trí của Hợi y là Càn của “Kmh Dịch”, là cửa của Tròi. Nhảm gửi ỡ Hợi nên gọi là Lục Nhảm cũng phải. Phương pháp tứih là lấy phương mà giò của ngày tứih rơi vào đó đẻ tính.

Du Chinh Nhiếp đà dày còng khảo cửu, nhưng thường không được sử dụng vi quá phức tạp. Nhưng đoạn vãn này đòi với chúng ta tìm hiêu dạng Lục Nhâm cò lại có ích rảt lớn. Từ trong đoạn ván này ta có thê nhìn thảy, thuật Lục Nhám bãt nguồn từ rất sớm, tuy nhiên việc bãt nguòn tữ Hoàng Đẻ thì không thật tin lãm, nhưng nó cách thời kì dùng can chi thì không xa lãm. Hơn nừa vi thuật Lục Nhám có phản kiêm cả quẽ “Dịch” và thuật Ngũ hành, do đó đại thê có thẻ đoán định thuật Lục Nhảm có thẻ xuất hiện vào thời Đòng Hán. Thuật Lục Nhảm kiêm cả quẽ “Dịch” và nguyên lí sinh khắc của ngũ hành, đòng thời khi xuất hiện không lảu đã dùng Thiên bàn vả Địa bản đẻ chiêm bòc cát hung của nhân sự dựa theo “Lảy phương mà giờ của ngày tính sẽ rơi vào đó đẻ tính toán”

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *