THUẬT CHIÊM TINH

1. THUẬT CHIÊM TINH

Nêu sau khi trâu giêt chẻt mà chân móng trâu ỡ dạng phản li lả điềm xâu không lợi cho việc xuất binh đánh nhau. Neu móng chân trâu chụm lại với nhau lả diêm tôt. Phương pháp chiêm bóc nảy là lảy ý nghĩa tượng trưng của hình dáng móng chân trâu : nếu móng chán trâu phán li (tách nhau) tượng trưng cho việc bị tan tác và that bại, còn móng chán trâu co chụm lại thì tượng trưng cho việc đoán tụ và thảng lợi.

Điêu bôc (bói chim) được ghi chép trong sách “Tùy thư – Tây Vực truyện”. Nữ quôc Tây Vực thờ Hà Tu La thản vả Thụ thản, hàng năm vào đâu nám dùng- người sòng hoặc khi Macác đè tê le. Tẻ le xong vào trong núi cảu đảo, lúc này sẽ có một con chim trông giong như gả rừng sẽ rơi xuống bàn tay người đứng tế. Người ta sẽ đem con chim này giết thịt, mò bụng, nêu trong bụng nó có chứa các vật thuộc loại lương thực, điêu đó nói lẻn nãm đó sẽ được mùa. Nêu như là các vật như sỏi cát thì đó là điẻm năm đó gặp thiên tai. Khai Hoàng năm thử 6 (tức năm 586), Nừ quôc dà từng đem loại chim này lảm le vật đẻ còng tien Vãn đẻ nhà Tùy.

Tiền bòc (bói bảng đông tiền) được bãt đàu từ nhả “Dịch” thuật nòi tiêng thời Tây Hán lả Kmh Phòng. Cao sĩ Nghiêm Quản Bình Thời Tây Hán đà sòng ân ỡ Thành Đò, Tây Thục bảng nghe xem bói.

Ong đă mượn việc xem bói đẻ khuyên người làm điêu thiện răn điêu ác. Khi xem bói cho nhừng người lả con trai, con gái thì ông khuyên họ làm điêu hiẻu thuận. Khi xem cho nhừng người anh em bạn bè thì ông khuyên họ yêu thương lan nil au. Khi xem cho tảng lóp quan lại thì dựa vào điêu mình dự đoán, theo đà phát triẻn của sự vật đè dan dãt, đẻ khuyên họ lảm điêu thiện. Ong đă dùng đòng tiên thời nhả Hán đè xem bói, tung tiên lẻn gieo quẻ, xem tượng quẽ đè dự đoán cho người ta lảy tiền chi phí cho sinh hoạt, sau đó đóng kin cưa đẻ truyên thụ về “Lằo Tư \ Vì vậy, người đời sau có cảu thơ :

Ngạn dư Chức nữ chi cơ thạch.

Tỉnh hùm Quân Bình trịch quái tiền.

Ngõa bóc (bói ngói) và Dương còt bòc (bói xương dè) thuộc loại bói mai rùa. Ngõa bòc lả dùng ngói thay rùa, dùng lửa đòt mặt lưng viên ngói, xem hình dáng các yết nứt của nó đẻ dự đoán cát hung.

Dương còt bòc lả một phương pháp xem bói của người dân tộc thiêu sô phương Bảc thường dùng. Cách này dùng lưa đòt xương ông chán dẻ (cừu), căn cứ hình dáng hiện ra sau khi đôt lửa đè xem bói. Tàm ngói và xương ông chân dẻ đêu là những vật thay thế mai rủa.

Trịch ngao (Ném vó ngao) là một phương pháp xem bói tương đòi được lưu hành ỡ Trung Quôc thời xưa. Loại xem bói này được xuất hiện khi nào, đèn nay vần không rõ. Yõ ngao chinh lả ngày nay thường gọi là vo con trai. Nên ném vỏ ngao chính là ném vỏ trai, dựa vào việc vỏ trai nằm sảp hay nam ngứa đẻ đoán tai hoạ. Xét về hình thức nó cũng giong như sủ bò bòc (bói xúc xắc), chảng qua chi là một loại dùng go ngũ sắc, còn loại kia dùng 2 vỏ con trai. Một loại là xem màu sảc go định cát hung, còn loại kia thì xem vo trai nằm sảp hoặc ngửa đê đoán cát hung, cả 2 loại tuy rảt giông nhau, nhưng thật ra thì không phải là một. Ném vò ngao lán đàu tiên xuất hiện trong văn hiên cò đạì, đại thẻ là cảu thơ : “Thủ trì hiệu bôi ngao đạo ngà trịch” của nhà viết vãn xuôi lớn Hàn Dụ, thời Đường (trong sách” Yet Hành Nhạc mieu”). Từ đó ta thấy chậm nhất là đèn trước Hàn Dụ, ném ngao đà được lưu hành. Trong sách “Dien phồn lộ” của Trịnh Đại Xương, đời Tông có đoạn ghi chép tỉ mi vẻ ném ngao như sau :

“Đời sau xem bôc đêu hòi Thản linh, có một dụng cụ được gọi lả còc ngao, dùng 2 mảnh vỏ trai tung lên không gian rồi rơi xuòng đảt, xem nó nam sảp nằm ngứa đẻ phán đoán lảnh đừ. Từ khi có phương pháp này, người đời sau không chi dùng vò ngao nừa, hoặc đă dùng trúc hoặc dùng go đểo gọt như hình võ ngao, trong đó chia làm 2 loại có sáp có ngửa cho nên gọi là cỏc ngao. Gọi là côc vì bèn trong vỏ ngao là rong có thê đựng chứa đò vật, hình dáng của nó

giông như chiếc còc. Còn ngao vòn lả giáo, nói lẻn lời chi giáo của Thản linh, sẽ biêu hiện thành sảp hoặc ngửa vậy.”

Từ đó ta thấy ném vó trai là một phương pháp xem bói đơn giản, nghĩa là chi đem 2 mảnh vò trai (hoặc các đò vật dùng mảnh trúc, mảnh go đêo thành hình vo trai) ném tung vảo không gian, đợi sau khi nó rơi xuống đàt xem vó trai nãm úp xuông hoặc ngửa lên đê đoán lành dừ. Việc nảy cũng giông như việc người ta tung ném đông tiên đẻ xem mặt sảp ngứa đẻ giành hơn thua, về việc tung côc ngao, Diệp Mộng Đãc đời Tông đà ghi chép một cảu chuyện lí thú trong sách “Thạch lâm yên ngừ” răng Tòng Thái Tò Triệu Khuông Dận khi còn chưa trỡ thành người có quyên lực, một hôm sau khi uòng rượu, ông đi vảo miếu Cao Tản, Nam Kinh thấy trên hương án có một chiếc côc trúc, do đó ông cám lấy đè chiêm bòc xem danh vọng của mình trong tương lai. Một ngửa một sáp là Thánh chi. Những người cùng đèn đó, từ Thiểu hiệu đèn Tiết độ sứ, ai nảy đêu lần lượt tung ném, nhưng đêu không đạt được Thánh chi một sảp một y ngủa. Lúc này Triệu Khuông Dận bong nhiên nói : “Sau đây sẽ phải lả tượng của Thiên tủ, một sảp một ngửa rôi”. Thuận tay vừa ném đã đạt Thánh chi một sảp một ngưa. Cảu chuyện này lả đè thản thánh hóa Triệu Khuông Dận, chứng minh cuộc chính biên Trân Kiều của ông và ứng theo ý trời của ông đà khoác lẻn mình chiếc áo Hoảng bào. Các bậc đẻ vương trong truyền thuyết dân gian Trung Quỏc xuất thản đêu có vàng hào quang “ứng thiên thuận dân” (theo trời thuận dân) thần thánh. Triệu Khuông Dận tung được Thánh chỉ, chi lả một bản nhạc xen giừa bé nhỏ của việc xuất thán đè vương của Triệu Khuông Dận mà thôi.

I Công dụng của việc bói cò thi

Sau khi tìm hiẻu vãn tãt một sô kiến thức về bói toán, bây giờ chúng ta xem lại còng dụng của việc xem bói của người xưa. Xem bói là lợi dụng hình dạng hiện ra của một sò vật tự nhiên không có sinh mệnh đè dự đoán lành dừ. Người xưa cho rang, qua quá trinh cảu thán thánh đẻ

xem bói; nừng vật tự nhiên đó cũng sẽ nhận được ý nghĩa tượng trưng của thần thánh: nhưng hình dạng hiện ra của chúng không phải là kẻt quả do người tạo ra mà là do thản linh và Trời trao cho, lả sự gợi V hoặc răn đe của thản linh. Người ta phải dựa vào lời gợi ý hoặc rãn đe của thản linh đẻ hướng tói điêu lảnh tránh điêu dừ: tạo phúc vả tránh hoạ. Họ cho răng Thản linh là vạn năng, không có cho nào không biêt, không có việc gì không hay. Chi cản thành tâm tin theo, sẽ nhát định có thê nhận được sự giúp đờ của thán linh. Vì thẻ, theo yêu câu và mục đích của người xin bói, việc bói cùng sẽ có nhiều tác dụng.

Còng dụng của việc bói toán đà được ghi lại trong sách “Sư kí – Quy sách truyện” có tới hon 20 loại, trong đó có “bôc tải”, ::bôc cư”, “bòc tuế”, “bôc thiên”, “bôc đế: v.v… Nhưng trên thực tè, việc bói toán không có cho nào không đúng, người ta có mục đích gì, có yêu cảu gì, có tám nguyện gì, đêu có thẻ thòng qua việc bói toán đẻ cảu sự gợi ý của thản linh.

Thời thượng cổ, việc bói cỏ thi do Bòc quan phụ trách, phản lớn dùng đê dự đoán các việc lớn của Quòc gia và quản sự, thường hay gặp có “bòc thê”, “bòc niên”, “bòc giao”, “bôc thực”, “bôc tuẻ”. Bòc thẻ chính là dùng co thi hoặc mai rùa đẻ dự đoán sò đời truyền quôc. Bòc niên chinh lả dự đoán sò năm các vuong hàu hướng quòc. Bòc giao là dự đoán ngày tôt đè tê lễ. Bòc thực là chọn địa điêm làm quôc đò. Bôc tuẻ là đẻ dự đoán năm tới được mùa hay thát thu.

Khi xem bói “quán quòc đại sự” có 3 nguyên tãc : một là trước dùng cỏ thi đoán, sau bôi. Người xưa cho răng vật trước tiên có tượng, sau có sò, rùa là xem tượng, còn đoán cô thi là bảng sô. Khi bói cô thi thì trước tiên lây cỏ thi đẻ đoán, nếu được sô tôt thì không cản phải bói nừa. Nêu không tôt thì sẽ bói tượng của nó.

Hai lả đoán bói không quá 3 lân. Người xưa xem bói là đẻ cảu điêu tôt lảnh. Nhưng đòi khi không phải là he bói là có thè đạt được diêm tôt lảnh. BÓI lân đàu không tốt, có thẻ bói lại lán thứ 2, thứ 3. Nêu lán thứ 3 bói đạt được van không tốt, thi không có thè lại bói lần thứ 4.

Người xưa cho rang, cho dù lần thứ 4 bói có đạt được điểm tôt thì cũng không linh nghiệm. \T thẻ thòng thưòng bói 3 lán vẫn không phải lả điềm tốt, thì công việc cản làm đó sẽ tạm thời dừng lại, đợi chọn được ngày tôt lại bói lại. Điêu này được gọi là xem bói không quá 3 lân. Người đòi sau thường nói là :Sự bảt quá tam” chính là từ “bói bảt quá tam” chuyên ảm mà ra.

Ba là đoán bói không bãt chước nhau. Đoán bói trước tiên dùng đoán băng cò thi, sau mới bói, nêu đoán bảng cỏ thi không tôt có thẻ bói lại ; neu bói lại mả không tôt, thì không thẻ chọn lại cỏ thi. Người xưa cho rãng bói là tượng còn đoán cô thi là sò. Vật trước tiên có tượng, sau có sỏ, tượng sô không thê đôi chò cho nhau. Vì thè, cho dù bói mả không tôt có thê bói lại, nhưng ngược lại không thẻ đoán cỏ thi lại.

Ba điêu trên có thẻ nói là nliừng nguyên tãc thời Thượng cò khi bói cô thi phải tuân theo. Còn khi bói co thi thì Bòc quan phải tãm giặt thay quản áo đôt hương cảu khấn lả nhùng điêu cán phải làm, về sau thuật bói có thi lưu truyền trong dân gian thì còng dụng của nó ngày càng rộng rãi. Tử hai nhà Tản Hán vẻ sau, thuật bói cỏ thi đă lưu truyền rộng rài trong dàn gian. Còn việc quòc gia quản sự thì thường dùng quẽ trong “Kinh Dịch” và “Chiêm tinh” đẻ dự đoán cát hung. Bói cỏ thi đã từ cung điện nguy nga của nliừng kè thông tạ đèn với dàn gian, thuật bói cò thi do đó được phát triên nhanh chóng vả được dùng rộng rài vào cuộc sông đời thường của mọi người. Nhiều người tm tướng Thản linh moi khi gặp phải việc gì khó khăn không quyết đinh nôi hoặc một sô việc khác vần thường có ý thức mượn các thuật sĩ đẻ chiêm bòc.

Trong cuộc sông bảy đàn của người nguyên thủy tôn tại hai thẻ giới hoàn toàn trái ngược. Một cái là thẻ giới sáng sủa dưới ánh mặt trời chói chang, muông thú chạy nhảy, một cái khác

xem bói. nhừng vật tự nhiên đó cũng sê nhận được ý nghĩa tượng trưng của thản thánh, nhừng hình dạng hiện ra của chúng không phải là kẻt quả do người tạo ra mà là do thản linh và Trời trao cho: là sự gợi V hoặc rãn đe của thản linh. Nguời ta phải dựa vào lời gợi ý hoặc rãn đe của thản linh đẻ hướng tới điêu lành tránh điêu dừ, tạo phúc vả tránh hoạ. Họ cho răng Thản linh là vạn năng, không có chồ nào không biết, không có việc gì không hay. Chi cản thành tàm tin theo, sẽ nhất định có thẻ nhận được sự giúp đờ của thản linh. Yi thẻ, theo yêu cảu vả mục đích của người xin bói, việc bói cũng sè có nhiêu tác dụng.

Còng dụng của việc bói toán đà được ghi lại trong sách “Sư kí – Quy sách truyện” có tới hon 20 loại, trong đó có “bôc tài”, ”bốc cư”, “bòc tuế”, “bôc thiên”, “bôc đẻ” v.v… Nhưng trên thực tể, việc bói toán không có chồ nào không đúng, người ta có mục đích gì, có yêu cảu gì, có tám nguyện gì, đêu có thẻ thòng qua việc bói toán đẻ cảu sự gợi ý của thản linh.

Thời thượng cô, việc bói cò thi do Bòc quan phụ trách, phản lớn dùng đê dự đoán các việc lớn của Quòc gia và quản sự, thường hay gặp có “bòc thẻ”, “bòc niên”, ‘bòc giao”, “bôc thực”, “bôc tuê”. Bòc thẻ chính là dùng co thi hoặc mai rùa đẻ dự đoán sò đời truyền quòc. Bòc niên chinh lả dự đoán sò nãm các \-ưong hàu hưởng quôc. Bỏc giao là dự đoán ngày tôt đê tẻ le. Bỏc thực là chọn đìa điẻm làm quòc đò. Bòc tuẻ là đẻ dự đoán nãm tói được mùa hay that thu.

Khi xem bói “quản quỏc đại sự” có 3 nguyên tảc : một là trước dùng cô thi đoán, sau bói. Người xưa cho rãng vật trước tiên có tượng, sau có sỏ, rùa là xem tượng, còn đoán cô thi là bảng sò. Khi bói cô thi thi trước tiên lấy có thi đẻ đoán, nêu được sò tôt thì không cản phải bói nừa. Nêu không tôt thì sẽ bói tượng của nó.

Hai là đoán bói không quá 3 lẩn. Người xưa xem bói là đẻ cảu điêu tốt lảnh. Nhưng đỏi khi không phải là he bói là cỏ thè đạt được điẻm tôt lảnh. Bói lân đàu không tôt, có thẻ bói lại lẩn thứ 2, thứ 3. Neu lần thứ 3 bói đạt được vần không tôt, thì không có thè lại bói làn thứ 4.

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *