Thi công đào đất thủ công và Các công cụ đào và vận chuyển

1. Thi công đào đất thủ công

Thi cổng dỏng cọc và kiềm tra: Trước khi đóng cọc phải xác định vị tri đóng cọc trên mật đất bằng^cách cảng dầy, khi đóng dùng hai máy kinh vl dật theo hai trục dọc ngang cùa hàng cọc đẽ’ theo dỗi trong quá trình đóng cọc cổ nghiêng lệch khỏi vị tri không mà diều chinh lại ngay.

Khi dõng cọc dưới nước với đô sâu khống lớn lắm người ta dựng một dàn cự ly cao hơn mật nước trên các cọc gồ tạm thời để*xác định vị trí cũa mỗi cọc. Trong trường hợp đóng cọc ờ nơi dất mém, cọc bè tông cốt thép nặng cỏ thể thụt xuống rất nhanh, cà khi chi mới bát dầu dật búa lên dẩu cọc. Cọc ăn xuống nhanh như thế rất dẻ lệch khỏi vi trí thiết kế. cho nên lúc đấu vản phải treo cọc bàng dốy cáp để có thể hạ cọc xuống dần cho đúng hướng.

Những nhát búa đầu tièn phải đổng nhẹ, khi cọc nằm chắc, đũng vào vị trí rồi mới cho búa đóng mạnh.

Đóng theo sơ dồ chạy’dài thì giá búa di chyyển theo hang cọc khỏng phải quay.

Đóng theo sơ dó khóm cọc tW\ phải bắt đầu từ giữa ra xung quanh. Nếu làm ngược lại đất ở giữa khóm bi lèn chật dán, công tác đổng nhửng cọc ờ giữa sẽ khó khan, có khi cọc khòng xuống hết chiều sảu hoặc làm trương các cọc xung quanh lẻn vì đất bị lèn quá giới hạn. Không nên coi thường hiện tượng này, sự trương dất chứng tò cơ cấu nén đất đâ bị phá hoại. Thòng thường nếu không đóng được hết cọc xuống dất người ta cát phần $pc thừa ở phía trên đi; diều này không nẻn làm vì cần phải $ồng cọc xuống hết độ sảu thiết kế.

Đóng cọc theo sơ đố ruộng cọc thì nên bắt dầu ờ giữa ra các cạnh. Nếu ruộng cọc lớn thì nên phân ra thành các khu. Trong mỗi khu cọc dóng theo từng hàng cọc.

Đối với các loại cọc chống thì phải đóng tới cao .trình thiết kế cùa mùi cọc. Đối với loại cọc ma sát hay cọc treo thì chì dóng cho tới dộ chối thiết kế đó là những triệu chứng cọc gặp phải vật càn gì đó dưới’ đất. Nếu cứ tiếp tực đổng mạnh nữa hòng phá vật cản đó đi thì cọc dể bị hư hòng. Có trường hợp sau khi dóng nhiều và mạnh cọc lại ăn xuống dẻ dàng tưởng như cọc dà dảm thũng lớp dã rắn hoặc đạp chệch vật cản sang bên thực tế đó lù cọc dầ bị hư hại hay gảy. Vậy khi cổ các dấu hiệu trèn phái ngừng đóng, nhổ cọc lên và phá vật căn bằng cách dõng xuống lồ cọc một lớp thép dầu nhọn hay phá bằng nổ mìn rối mới tiếp tục đóng cọc xuống.

Trong thực tế thi công còn gặp trường hợp cọc không chịu xuống nừa hoặc còn xa nó mới đạt đến cao trình thiết kế mà dộ chối cùa cọc dà dạt tới hoẠc nho hơn dộ chối thiết kế người ta gọi đó là độ chối giả tạo. Nguyên nhản là đát xung quanh cọc bị lèn ép chặt quá trong khi dóng cọc. Nếu tạm ngừng thi cỏng ít lâu dé độ chặt cũa đất xung quanh cọc giám đi rồi mái đóng lại thì cọc cổ thè ân xuống bình thường.

Đóng những cọc gần nhau trong đất thịt dính và dàn hồi thường gâp trường hợp các cọc dóng xuống trước bị trương nổi lèn khi dóng cọc sau. Khi này nên sừ dụng búa hơi song động có tán số lón. Dùng búa này có thể tránh dược cả hiện tượng chối giả tạo.

Khi dóng cọc xuống bị lệch khỏi vị tri thiết kế phải nán lại hoậc nhố lèn đóng lại.

Công cụ dáo

Mỗi loại đất tùy theo đô cứng hay mém mà dùng dụng cụ cho thích hợp:

Dùng xẻng đê đào xén đất mếm,- Đất càng mếm càng nèn sử dụng xéng to bân. Kích thước xéng nẻn làm to nhỏ khác nhau, cán làm dài ngán theo tầm vóc người. Dùng xẻng đào đất cấp I, II, III, IV, V rất tiện, dào xong có thể đổ ngay vào xọt khòng cán người bốc dất như mai.

Mai dùng đẻ’ xần những táng đất mểm quánh (cấp I, II. III).

Hiện nay còn dùng khung dây để xắn’ dai quánh.

Xà beng dùng dể xắn dất rán, dất sỏi ong, dất dã… đẻ’ bữa từng máng đất đá rắn từ cấp VI trở lên.

Cuốc bàn dùng cho đất kém rán hơn.

b/ Cóng cụ ván chuyến đất

Nhừng phương tiện dùng đê vận chuyễn đất lèn cao gổm có:

Cắn vợt đẻ’ vận chuyến đất lên cao.

Cộthuốm vận chuyến đất lẻn bờ.

Đường dây chuyển các sọt dất lên dốc.

Cản trục gồ và tời tay hay khung gỏ treo palâng xích dẻ’ trục thũng đất lẻn bờ.

Máy thăng tải gồ di dộng hay giá xe leo di dộng

Bàng vận chuyển

Nhừng phương tiộn vận chuyến đất đi xa thũ công gồm có:

Dù hố móng không nằm ớ nơi có nước ngầm cũng đào sao cho mật dất luôn luôn dốc đẻ phỏng khi mưa nưđc mau chảy xuống hố bơm.

Phải bỏ trí các dường vận chuyển đất không cắt nhau, đạc biệt không bố tri các đường lẻn xuống không trũng nhau.

Tổ chức dào treo tuyến: tuyến dào và tuyến vận chuyến.

Điêu kiện áp dụng: nơi dát khô ráo

Cách dào

Có hai cách đào: Đào dọc và dào ngang

Đào dọc: đào các hố sâu và rộng thì cho máy đào tuần tự di chuyến dọc theo chiều dài hố. Tuyến đào phải hơi dốc ngược với hướng đào dô’ thoát nước mưa. Đường òtỏ vận chuyển dất chạy song song với tuyến đào. Người ta thường đào trưức một rãnh gọi là rãnh mờ đáu, không sâu lám. Đối với ỏtô tải và xe rơmoóc thì chiếu rộng cũa rành ờ đắu phải lớn hơn 2,5m; dối với đường sắt khổ hẹp phải lớn hơn 2 Người ta áp dụng phương pháp dào dọc để đào những hố móng lớn, dào kênh, lãm nền đường.

Kiểu dào dọc dỏ’ lên nhừng xe tãi chạy song song với dường di chuyển cùa máy dào như vậy xe và máy đào làm việc dỄ dàng. Đường xe tái và dường máy đào có thế ờ cũng một dộ cao hoữc dường máy dào cỏ thể thấp hơn một chút. Cách đào nãy có thẻ áp dụng mọi loại xe to, nhò.

Kièu dào dọc dỏ sau: Áp đụng_kiếu dào này khi đào nhừng hố hẹp và sâu, chi có một đường cụt dán dến chỏ đào và trong hố đổ xe khó xoay trờ. Những ôtô tãi phục vụ máy .dào như vậy phái chạy lùi vào trong rãnh dào, chiều rộng cùa rảnh đảo bị hạn chế bới bân kinh lớn nhất cùa cấn máy đào. Muốn đổ dất vào xe dửng đãng sau thì máy dào phãi quay nữa vòng như vậy làm táng thời gian công tác cùa máy dào.

Đào ngang: Nghĩa là bố trí đường vận chuyển vuông góc với trục di chuyến cùa mãy đào. Theo cách này dường vận chuyển có thể rút ngấn hơn. Trong trường hợp hố đào khá sâu nghĩa là chiều sâu vượt quá chiều cao đào dất lớn nhất của máy dào thi ta chia ra làm nhiểu tầng mà đào.

Trong khoang dào vị trí dửng cùa xe tài mà cao hơn vị trí cùa máy dào thì gọi là kiểu dào bậc. Nếu hai vị trí dó ở cũng độ cao thì gọi là kiểu dào dợt

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *