THAM CHIẾU TÁM PHƯƠNG VỊ THEO THUYẾT “TAM NGƯƠI CUNG PHI”

1. VÀI NÉT VỀ THUYẾT “TAM NGƯƠN CUNG PHI PHONG THỦY TRUNG HOA

Thuyết “Tam Ngựcm Cung Phi” là một thuyết cùa các hợc giã Trung Hoa. Nó ra đời cách nay hàng nghìn năm ở Trung Quốc.

Thuyểt này có nội dung bàn dển nhiều vấn dề mà cuộc sống con người đều liên quan. Nhừng vấn dề này đèu dựa tròn cơ sơ hai học thuyết Âm Dương và thuyết Ngù I lành cùa Trung Quốc. Nỏ cùng dồng thời vận dụng cả các kiên giài cùa Chu Dịch – ta thường gọi là “Kinh dịch” theo quan niệm các “Què”, dịch và các phép phong thuy khác nừa.

  1. Các vấn dề thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” dề cập là gì?

Thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” đè ra nhùng nguyên tắc về hôn phối, cưới hoi, vè hợp tác, về phương hướng làm ăn, buôn bón, nhà dàt…

Đặc biệt thuyết này bàn sâu các phép cùa phong thuý trong xây cất và lu tạo nhà cửa, nỏ cùng bàn việc dặt đểmồmảv.v…

Ta sõ tham khảo thêm “Bát cẩm Trạch” (tám hướng phương vị tốt, xấu) cùa thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” theo quan điểm này ta không cỏn bị gò bỏ về tim hướng tốt theo tuôi cùa minh (chù nhân chính). Khi ta muốn chọn một thừa dất dè xây nhà hay mua nhà xây săn; hoặc ta làm nhà máy, ván phòng, cửa hàng kinh doanh v.v… ta cần áp dung phương pháp cùa thuyết “Tam Ngươn Cung Phi”.

  1. Thuyết “Tam Ngưom Cung Phi“

Cho ràng mồi người sinh ra trong một năm có dũ can chi nào đỏ sC ứng với một “quẻ” trong “Bát Quái” (theo Kinh Dịch). Ngưởi ta biệt giài thành các què trong “Bát cầm Trạch”.

Thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” nói về “Bát cầm Trạch” (‘Tám hướng phương vị tốt xấu) cỏ chia 4 phương thành “8 hướng, phương vị”; Bắc. Dông – Bắc; Đông. Dông – Nam; Nam, Tày – Nam; Tây và Tây – Bác với “8 hướng phương vị”, mồi phương vị cỏ 45<sup>0</sup> la bàn. Trong mồi phương vị dỏ ửng với một “Què” cho một luôi can chi nhai định cỏ ba phương vị tốt.

+ Phương vị Sinh Khí

+ Phương vị Phúc Dức

+ Phương vị Thiên Y

  • Một phương vị nửa tốt, nửa xấu.

+ plương vị Phục Vị

  • Mai phương vị xấu.

+ Phương vị NgQ Quý + Phương vị Họa Hại

  • Hai phương vị rất xấu.

+ Phương vj Tuyệt Mệnh + Phương vị Luc Sát

Nhà hướng Dậu, I luyền Quan nên mơ ở hướng Dông – Nam, cùng có thê mơ ở hướng Dông.

Như vậy với “Bát cẩm Trạch”, ta có thê mờ rộng thêm cách tim một hướng phương vị cho Huyền Quan (cửa chính – mặt tiên) so với phương pháp tim ương “hướng nhà” chung chung cho I tuôi theo hàng Chi đơn thuần đà đè cập ờ Chương I trên.

Trong “Tám phương vị tốt xấu” ta tính thật chi tiết thèm cho một tuôi cỏ dù Can Chi với phương vị rộng mớ hơn. Nó giúp ta có thê diều chình Huyền Quan vào một phương vị như ỷ. Một phương vị mà klữ dỉ ta cỏ thê vẫn hài lòng trong điều kiên dát chật, người dông ơ các thành phổ. Nó cùng giúp ta cỏ thèm giài pháp dề tìm cách khắc phục “hướng khí” ờ nhừng nơi mù vè mật khách quan bị khổng chế. Ví dụ ta ớ khu nhà tập thê, ta ở các khu dàt dâ phân lô theo quy hoạch, ta ở các khu cộng nghiệp, khu chê xuất v.v… ơ lìhừng nơi này nỏ phải theo một quy chỏ quy hoạch, ta không còn quyên lưc chọn “hướng khí” theo ỷ muốn cùa ta nừa. Ta chi còn dựa vào phép phong thuý dề giúp giài quyết nhùng thiểu sót hay những vấn dê hướng nhà, hướng cứa chính, hướng bếp, hướng bàn thờ cho hợp lý và dạt dược nhừng diều tốt hơn.

  1. Cũng theo phép phong thuỹ

Nểu la ti mi hơn và cỏ điều kiện nừa, ta có thể tìm “phương vị cung””Phương vị cung” dưa ưên la bàn. Một phương vị cung chi cỏ 15° (trên mặt la bàn dà dược chia thành 360°). Mồi phương vị tốt, xấu có 45° lại dược chia thành 3 phương vị cung. Do dó, mồi phương vị cung chi có 15° nó tao thành 24 “cung phương vị la bàn”.

Với cung phương vị, ta có thế xác dinh hướng nhà càng cụ thê và ti mi hơn. Song, nếu ta không có điều kiện, nói chinh xác hơn là thực tê khách quan không cho phép ta cùng dừng băn khoăn mà chi cân chim được một phan chính trong “hướng khí”: Dông, Tây, Nam, Bấc, Dông – Bắc, Tây – Nam, Tây – Bắc. Dông – Nam. Như vậy là tot rồi.

Nhà hướng Càn. Huyền Quan nên mơ ơ phía Dông Nam hoặc phương Nam.

  1. Ta không nhất thiết cử phải cầu kỳ tỉm kiểm cho được cung phương vị tốt ương 24 cung phương vị: Dân. Cận. Sửu; Quý. Tỷ. Nhâm; Hợi. Càn. Tuât; Tân. Dậu. Canh; Thân, Khôn, Mùi; Dinh. Ngọ, Bính; Tỵ, Tốn, Thin; Át, Mão, Giáp.

Việc xác đinh được như vậy thì càng hay và ta càng hiểu chi tiểt về tốt, xấu (cát, hung) cùa hướng nhà hay hướng Huyền Quan (cửa chính) trong viộc định “hướng khí”.

Vi dụ: Hướng nhà (hướng lưng nhà) là Dông – Bác, thi hướng Huyền Quan – hướng khí – hướng mặt tiền là Tày – Nam. Như vậy ti» dược “hướng khí” là Tày – Nam. Nó dược dại diện là “Khôn” (ớ chính cửa) đổi với nhừngai là Nam giới sinh vào các năm: 1935, 1944, 1953, 1962 v.v… Và sinh vào các năm 1933, 1942, 1951, 1960, 1969 v.v… dối với nừ giới là chù hộ. Như vậy là màn nguyện rồi, là tốt rồi. Ta không nhât thiết phải chọn cho dược một cung: Thân hay Khôn hay Mùi (3 cung phương vị này đêu thuộc Tây – Nam) một cách quá tỷ mi. Thực ra, trong thực tê, ta không cỏ nlìièu điêu mà ta có thê dạt được thật hoàn hảo.

Do vậy, các nhà phong thùy dã phải tìm giúp cho ta các cách, phép dê khắc chề về hướng nhàm đạt được dièu mong muốn; tránh diêu xấu, ví dụ như cách xoay hướng phòng ngũ hưởng bếp, hướng bàn thờ. hoặc dặt các thứ như: dèn. sáo. khánh, gương, gương Bát quái v.v… (phân này sẽ nói cụ thê hơn nừa sau).

  1. Trong “Bát cẩm Trạch” (tám hướng phương vị tốt xấu), các nhà phong thuý thời xưa ở Trung Quốc dà tính bang 8 què theo thuyết Chu dịch. Dỏ là các què: Khôn, Khăm, Ly, Can, Đoài, Càn, Ton, Chân – các què trong “Bát Quái”. Mồi què chơ ta dù “tám phương vị” gôm các phương vị tốt (cát); các phương vị nửa tốt, nửa xâu (vừa cát, vừa hung); các phương vị xâu (hung) và các phương vị rât xâu

(đại hung)…

Mỗi quẽ ứng với một số tuôi can chi trong 60 tuôi can chi liên hợp. Nghĩa l«à không một tuôi nào sinh ra mà không được quan tâm nghiên cứu đê dê ra “hướng khí” áp dung phù hợp với tuôi dỏ dũ các tuòi trong một “Hoa giáp” 60 năm

IL MINH HỌA CHI TIẾT CÁC PHƯƠNG VỊ TỐT, XÁU CỦA 8 QUẺ TRONG “TÁM PHƯƠNG VỊ TỐT XÁƯ’ (“BÁT CẢM TRẠCH”)

  1. Như dà núi ở phần trên, mồi tòn que chi rõ phương vị lành dừ cùa bốn phương tám hướng de vci mồi tuôi ta có thê so chiêu, nhàm giúp ta tim dược một phương vị phù hợp với nơi ớ. nhà máy, cừa hàng, cửa hiệu, ưường học, xương, bệnh viện, văn phòng, ưu sở v.v… cùa ta.

Cần nhớ rằng, ta sừ dụng phép này cho chù sở hữu các công trình hoặc lâu dài hay chi l<à nhất thời (nhiệm kỳ lãnh đạo) dè dạt được điều tốt lành nhất do “hướng khí” tốt hồ trợ thêm cho.

Dương nhiên, không có thử gì là vĩnh viền. Hướng khí cùng thay dôi ít nhiều sau một Nguyên Ký (Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên). Thế ký 21 dang nằm trong Hạ Nguyên Kỷ. Mồi Nguyên Kỷ cỏ một “hướng khi” chung cùa khu vực ảnh hương tới các hướng, khí chi tiỏt nhưng không quyết định. Nỏ chi mạnh ở chồ này, yếu ờ nơi khác.

Sự thay dôi chuyển dịch hướng khi cùng giống như dòng sông dôi dòng vậy. Song sông muốn chuyên dùng lệch sang phải hay lệch sang trái (ben lớ bòn bồi) thè nào di nừa till nước vần chi chày từ nơi cao xuống nơi trũng. Khí chuyên vừa theo dòng, vừa tàn mạn.

– Các dòng “thiên dịa khí” dịch chuyển vô dịch, vạn neo, trâm dường, chồ mạnh chồ yếu cỏ khác nhau và tác dộng khác nhau chứ không một nơi nào mà không có “Thiên dại khí”. Hiện ta phải khăng định là cỏ “khi lành” và “khí dộc” (cát và hung) và pha làn cát hung. Có dòng chính và dòng phu; khi nỏ vào nhà dược thuận hướng thì nhiều; không bị vướng chận thì ưôi chảy, không dóng kín thì bứt lù dçng. Chỗ rộng thi nhiêu, chỗ hẹp thi ít v.v… vận khí lậ muôn trạng như vậy. Song quy tụ lại cỏ tám liuớng khi chinh, nó phân ra lành, dừ và ưung dung tốt xấu.

Nhà hướng cấn, I luyen Quan cỏ thê mơ ở phương Nam, hoặc phương Tây Nam ở phương Tây.

  1. “Vận khí” theo que và tám phương vị tốt, xấu như sau:

Dây là các phương vị chuẩn dể tham chiếu cho từng quẽ phương vị dưới dày.

  1. Mồi người sinh ra trong một năm Năm sinh ở Ả Đông người ta thường tính cả tên năm Ảm lịch và năm Dương lịch
  2. .THAM CHIẾU TÁM PHƯƠNG VỊ THEO THUYẾT “TAM NGƯƠI CUNG PHI”
  3. Cản cứ vào tuổi cùa chú sớ liìru

Trong các bàng trên dă cung cẩp cho ta cà năm Ảm lịch và năm Dương lịch. Song diều mà ta cần lưu ý là năm Âm lịch – năm Am lịch thường gối cả sang năm Dương lịch sau. Diều này thưởng xảy ra với những người sinh vào tháng Chạp (tức thảng 12 Ảm lịch). Trong các trường hợp này, ta phải lưu ý dè khói lâm làn giừa năm Dương lịch với năm Am lịch. Ví du năm 2029 (Kỷ Dậu) song ai sinh dâu tháng I – 2030 thì tuôi Âm lịch van là năm Ky Dậu mà năm Canh ‘Phàn theo bàng là 2030.

ơ bàng trôn khi ta áp dụng “hướng Khí” theo “tám phương vị tốt xấu”, ta cứ dùng năm Ảm lịch là tốt nhât không bị ngộ nhận. Năm Dương lịch di kèm chi nhàm giúp ta nhanh nhận biêt khi ta chi nhớ năm Dương lịch. Trong “Tám phương vị tốt, xâu” theo thuyết “Tam Ngươn cẩm trạch” chi tính theo nám Am lịch mà thôi.

  1. Tại sao ta có thề áp dụng thuyết này vào diều kiện Việt Nam dược
  • ‘Ilìừ nhất thuyct này dà dược các học già ‘Irung I loa nghiên cửu và ửng dụng, bổ sung, dicu chinh và kháo nghiệm hàng nghìn năm. Đên ngày nay, phép phong thúy rày vẫn dược áp dụng rộng rãi cả ớ Trung Ọuốc và các nước Dông Bác Á như: Nhật Băn, Triều Tiên, I làn Quốc; ở các nước Dông Nam Á như: Thái Lan, Sinhgapore, Ma lama v…
  • 77tử hai, hiệu ửng phép phong thủy này là rõ rệt và khoa học. Nỏ phù hợp nhừng kicn thức dịa lỷ

và các hiểu biểt về dịa lý, dịa hình và khí tượng v.v…

  • Thửba, Việt Nam gần Trung Quốc códịạ lý tương dồng, quan niệm, tập tục về nhà ở, cưới hỏi, dể mồ mả và nhiều quan niệm, ỷ nguyện, tâm thê… giống nhau.
  • Thử tư: các nước gần ta cùng khu vực với ta, các học giã cùa họ cùng vận dung phép phong thủy này vào diêu kiện thực te cùa họ. Một phát minh ờ một nước; nhưng việc ứng dụng nỏ thì luôn mở rộng rạ nhiều nước khi hợ thây phù hợp và dũng dấn. Đó là tính kế thừa truyền bá các kiến thức khoa học ớ tât cả các lĩnh vực ưên thỏ giới này.
  • Thừ nồm: ứng dụng lý thuyết và các phép phong thuy rày cũng dẻ dàng và rỏ ràng. Bất cứ ai thích, đêu cỏ thê áp dung, bât cữ ai nhận thức được, dêu cỏ thê thực hành.
  1. (’ách ỉhnnichicu phép phưong vị theo 8 que bát quái

Khi ta dà biết nám sinh cùa mình, ta chiếu vào bàng dà trình bày ở trên dè tìm “Què” chính xác cho tuồi mình. Mồi “Què” chi rỏ “8 phương vị khí”. Ở phần chi tiết dã nêu rỏ tám tính chất cùa mồi phương vị: Bấc – Nam, Dông – Tây, Tây – Bắc, Dông – Bắc, Tây – Nam, Dông – Nam.

  • Ta chi chọn 3 phương vị tốt mà thôi. Đó là sinh khí, phúc dức, thiên y. Trong một phương vị có 45° la bàn. Ta lấy một trong 3 phương vị trên mà thề dất cùa nhà cỏ thê cho phép ta mơ cửa chinh (Huyền Quan) mật tiền cùa nhà dè áp dụng.
  • Nếu thực dịa không cho phép, ta cỏ thể lấy phương vị “Phục vị” (nửa tốt, nữa xấu) cùng được.
  • Nếu không thê được nừa, ta áp dung các phương thức khắc phuc chính khác da nói trên (hướng bcp, hướng ban thờ, hướng phòng ngũ, bàn làm việc, phòng giám dốc…).

 

Bình luận trên Facebook