Tại sao ở thời kì Tây Chu dùng “khi’” để giòi thích âm dương?

1. Tại sao ỏ thòi ki Tây Chu dùng “khi’” để giòi thích âm dương?

Âm dương từ một danh từ phổ thông để biểu thị thời tiết phương hướng, trồ thành một quan niệm âm dương trong triết học tức là âm dương được tưởng tượng thành hai thứ “khf’trong vũ trụ.
Sách “Quốc Ngữ” có viết: Chu Tuyên Vương cử hành lễ tịch điển, sau đó “khí dương bốc lên đất đai chấn động”, “ám dương phân bố’ sấm sét nổi dậy”. Bá Dương Phụ giai thích nguyên nhân động đất vào năm thứ hai đdi Chu Ư Vương như sau: “Khí dương ẩn mà không bôc lên được, khí âm bị ép xuống không hóa giải được vì vậy mà có động đất”.

  • Những mẫu tu tivi đẹp nhất

  • Ke Tủ đựng giay dep

  • Mẫu bàn ghế học sinh

  • Cớ thể thấy, từ thời kì Tây Chu đã có sự ghi chép rõ ràng về hai khí âm dương. Trong sách “Lão Tử” có nói về âm dương : “muôn vật dựa vào khí ầm mà bao bọc khí dương” củng là nói về hai khí âm dương. Sách này ra đời tuy muộn trong đó bao quát không ít quan niệm triết học nguyên thúy đơn giản.
    Âm dương bao gồm ba lóp ý nghĩa: trời râm và trời nắng, hướng về âm và quay lại vói dương, âm khí và dương khí. Trong thời ld Tây Chu ba lớp nghĩa này đều cùng tồn tại.
    Hai khí âm dương ngoài việc dùng đế giải thích các hiện tượng tự nhiên như động đất, sấm chớp, sương tuyết còn được coi là cơ sỏ hình thảnh cả vũ tru. Muôn vật. trôn thế giói đều có thê chia thảnh âm dương chứ không chỉ giới tự nhiên mà thôi, thòi gian không gian và toán học cũng như thế, con người và xã hội con người cũng luôn như thế. Ví dụ trời (càn) thuộc dương, đất (khôn) thuộc âm; mặt tròi thuộc dương, mặt trăng thuộc âm; trên thuộc dương đưối thuộc âm; xuán hạ thuộc dương, thu đông thuộc âm; đông nam thuộc dương, tâv bắc thuộc âm, trái thuộc dương phải thuộc âm sô lẻ thuộc dương sỏ chẵn thuộc âm, giông cái thuộc ấm giông đực thuộc dương, nam thuộc dương nu thuộc âm; trong quan hệ loài người: bô’ và con, chồng và vợ ; vua và tôi, sang và hèn; thậm chí các tập tục trong xã hội như lễ và nhạc , nhân và nghĩa, cương và nhu… đều có mối quan hệ tương hồ đối ứng vối âm dương. Đúng như sách “Liệt Tử” có viết: “đạo trời đất chẳng phải âm thì là dương”. Như vậy là đã hình thành sự phân loại nhị nguyên đối với vạn vật được gọi là “quan niệm vũ trụ phân loại nhị nguyên”. Đó chính là một dạng quan niệm vù trụ thường thấy ở thời cổ đại.
    234. Quan diêm tự nhiên hữu cơ đờĩ cổ có phải là vũ trụ quan “thiên nhân họp nhất ”hay không?

    Mặt trời Mặt trăng Cốc vì sao
    Gió Sấm chốp Mưa
    Thú Hoa Chim
    Người Sâu bọ Cá

    Mồi một tác phẩm về Phong thủy học đểu lấy “sinh khí” làm chủ để. BỞI vì theo “Dịch Truyện” thì “núi sông thông nhau bằng sinh khi’, mặt đất tràn ngập sinh khí, sinh khí dự báo sức sống đại diện cho sự hưng thịnh, trong sách “Kinh DỊch”thuộc đại cát . cả một nền Phong thủy hoc dều lấy khí lun làm chủ đao, lấy sinh khí làm mục tiêu tìm hiểu và phát triển. Bản thân học thuyết “đại địa sinh khí” chính là phản ánh quan điểm tự nhiên “đại địa hữu cơ”. Chì từ tiền đề quan điểm tự nhiên “đại địa hữu cơ”thì sự phát triển của Phong thủy học mới có giá trị và tính khoa học của học thuyết này ngày nay càng được sự chứng thực của khoa học. Điều chú trọng trong quan niệm tự nhiên hữu cơ là mối quan hệ giữa con người và môi trường cũng chính là vũ trụ quan “thiên nhân hợp nhất” truyền thống của Trung Quổc. Quan điểm này nhấn mạnh sự hài hòa giữa con người và tự nhiên chủ trương: “nơi ở của con người nên lấy núi sông mặt đất làm chủ”. Đó cũng tức là nói con người cần thuận theo đạo trời lấy tự nhiên làm gốc. Con người chỉ có thể chọn lựa môi trường tự nhiên thích hợp mới có lợi cho sự sinh tồn và phát triển của chính mình. Quan điểm tự nhiên hữu cơ này vừa là trung tâm tư tưởng phong thủy lại là tinh hoa truvển thống Phương Đông, Phùng Nguyên.
    Mô hình thiên nhân hợp nhất luôn chú ý từ từ góc độ chỉnh thể để nhận thức và nắm bắt thế giửi. Đem con người và thế giới tự nhiên hợp thành một chinh thế cảm ứng lẫn nhau
    235. ‘Thuyết Đai địa sinh khí ” xuất hiên như thế nào?
    Từ thối xa xưa tất cả nhu cầu sinh tổn của loài người hầu như thu hoạch trực tiếp từ mạt đất. Do đó người xưa sùng bái mặt đất, coi mặt đất như mẹ hiển nuôi dưỡng sinh mạng của mình; họ không chỉ coi con ngươi chỉ là một bộ phận của tự nhiên mà còn coi bản thân mặt đất là một thể hữu cơ có linh tính giữa cốc bộ phận cổ mối liên quan tương hỗ điêu hòa. Do đó sinh ra quan điểm tự nhiên truyền thông của Trung Quốc cho rằng măt đất có sinh mệnh. Đây là một kiểu quan niệm tự nhiên hữu cơ thống nhất.Vì nó xây dựng trên cơ sỏ’ nhận thức một mặt đối vối sự quan sát và nhận thửc về hiện tượng tự nhiên thường thường chính xác nhưng các kết luận rút ra lại thường hàm hồ. Thế mà những lí luận mơ hồ hầu như lại có tính hàm súc vô hạng. Đồng thời, từ đó mà có sức sống của lí luận tả hữu. Quan điểm tự nhiên hữu cơ truyền thống của Trung Quốc có ảnh hưởng rất sâu sắc vói tư tưởng nông học , hơn nữa những lí luận đó rất có khả năng hình thành sớm nhất từ trong sản xuất nông nghiệp. Hoặc cố thê nói, đó là sự thăng hoa của kính nghiệm thực tiễn trong quá trình sản xuất nông nghiệp lâu dài.
    Trong triết học cổ đại Trung Quốc* quan điểm gioi tự nhiên có sinh mang xuất hiên rất. sớm. Khoa hoc hiên đai cũng chứng minh

  • Quay đầu giường hướng nào

  • Tủ góc đẹp

  • mặt đất có sinh mệnh; và cũng như cơ thể con ngựòi có kinh mạch và huyệt, vị; điều này đối với quan điểm tự nhiên hữu cơ mặt đất có sinh mệnh vô cùng phù hợp. Quan điểm nảy được đưa ra sớm nhát trong “Kinh Dịch”. Trong các sách “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Van”, “Hoàng Đế Linh Khu Kinh” và các sách vở ồ thòi kì sốm nhất bàn đến càng nhiều hdn. Từ lí luận, thuyêt đại địa hữu cd và quan điểm tự nhiên cảm ứng có quan hệ mật thiết. Như Vương Đình Tướng vả Trình Di lần lượt tổng kết lả: “người và trài đất, quỉ thần, muôn vật cùng một khf1- “Trong khoáng trời đất chỉ có cảm ứng mà thôi, còn có chuyện gì nữa?”. Khi có quan điểm tự nhiên cảm ứng giữa trời, đất, người, thì học thuyết mặt đất có sinh mệnh cũng dược sinh ra rất tự nhiên.

    Bình luận trên Facebook