Phương pháp chẩn đoán bát quái trong Đông y là gì?

1. Kiêng kỵ trong ăn uống và ngũ hành có những quan hệ đối ứng nào?

Nguyên tắc kiềng kỵ trong ăn uống chủ yếu bắt nguồn từ sách Nội kinh, người đời sau lại không ngừng bổ sung và phát triển. Kiêng kỵ trong ăn uống đại thể bao gồm: Thứ nhất, lấy sinh khắc ngũ hành kết hợp với tính vị thức ăn làm nguyên tắc, thí du “ngũ cấm” (năm điều kiêng) trong sách Linh khu, bệnh gan kiêng đắng, bệnh tim kiêng mặn, bệnh lá lách kiêng chua, bệnh thận kiêng ngọt, bệnh phổi kiêng đắng. Bệnh gan kiêng thức ăn cay, vì cay thuộc Kim khắc Mộc, do đó không nên ăn, cũng vậy, bệnh tim kiêng thức ăn mặn vì mặn thuộc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả,các trường hợp còn lại theo đó suy ra. Thứ hai, lấy tác dụng của tính vị thức ăn đối với bệnh tật để xác lập nguyên tắc kiêng kỵ, thí dụ “ngũ vị sở cấm” (kiêng năm vị) trong sách Tố vấn. Cay xua khí, bệnh khí không nên ăn nhiều cay; mặn xua huyết, bệnh huyết không nên ăn nhiều mặn; đắng xua cô”t, bệnh xương không nên ăn nhiều đắng; ngọt xua nhục, bệnh cơ không nên ăn nhiều ngọt; chua xua cân, bệnh gân không nên ăn nhiều chua, đó gọi là ngũ cấm (năm điều kiêng). Ngoài ra, nhấn mạnh không ăn nhiều, tức là ăn được nhưng không quá mức, quá mức sẽ có hại. Thứ ba, hạn chế sự quá mức đổì với nóng lạnh của thức ăn, thí dụ “ẩm thực giả, nhiệt vô chước chước, hàn vô thương thương” (ăn uống, nóng không được nóng rát, lạnh không được lạnh lẽo) trong sách Linh khu. Thứ tư, thức ăn có trăm tính, hàn nhiệt của thế chất giô’ng vđi kiêng kỵ hàn nhiệt của thức ăn, thí dụ thể chất tính hàn kiêng thức ăn tính hàn, thể chất tính nhiệt kiêng thức ăn tính nhiệt.

Mời bạn tham khảo:

Mẫu bàn mặt đá nhân tạo đẹp

Mua bàn đá phòng khách độc đáo

Bàn ghế kiểu Pháp sang trọng

2. Phương pháp chẩn đoán bát quái trong Đông y là gì?

Bát quái trong Kinh Dịch là một quan niệm chỉnh thể toàn diện. Sáu mươi tư quẻ trong dó là một hệ thống thống tin lớn, mỗi quẻ lại là một hệ thống thông tin nhỏ, lả bộ phận tổ thành của hệ thống thông tin lớn. Bởi vậy, bát quái chứa đựng tư tưởng của thuyết vũ trụ thống nhất, có thể tổ chức vạn vật trong vũ trụ thành một hệ thống hữu cơ. Chỉ cần nắm được kết cấu chỉnh thể của bát quái là chúng ta có thể suy luận, dự đoán vể mọi phương diện. Đỏng y ứng dụng nguyên lý này vảo chẩn đoán, đề ra nhiều lý luận độc đáo. Thí dụ, phương pháp chẩn đoán bát quái hình sắc khuôn mặt chia khuôn mặt thành tám vùng và đối ứng chóng với tám phương vị bát quái, từ dó suy đoán bệnh biến của phủ tạng. Hay như, chẩn mạch trong Đông y cũng dựa theo nguyên lý bát quái. Thí dụ, mạch vị, hào có ba vị trí, mạch có ba bộ phận. Sáu hào của mỗi quẻ trong sáu mươi tư quẻ được chia thành tam tài Thiên, Địa, Nhân, mạch tượng cơ thể cõng có tam vị Thiên, Địa, Nhân và tam hầu Thốn, Quan, Xích. Ngoài ra, phương pháp chẩn đoán bát quái đối với hình sắc của tay, mắt, lười cũng đều được lập ra theo nguyên lý bát quái.

3. Quy luật dưỡng sinh theo tiên thiên bát quái như thế nào?

Thế nào là “tiên thiên”? Theo quan điểm triết học, khi vạn vật trong vũ trụ chưa hình thành thi được gọi là tiên thiên; có vạn vật thì gọi là hậu thiên. Một con người, trước khỉ ra đời thì gọi ỉà tiên thiên, sau khỉ ra đời thì gọi là hậu thiên. Đây chỉ là một cách giải thích, dùng để vạch ra phạm trù giai đoạn. Bát quái chia thành tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái. Tương truyền, tiên thiên bát quái do Phục Hy sáng chế ra, từng cập đối nhau, về bản chất đã vạch ra sự đối lập thông nhất tồn tại phổ biến trong thế giộ. khách quan và quy luật của âm dương tiêu trưởng, phản ánh Vận vật vạn tượng. Hậu thiên bát quái còn gọi là Vãn Vương bát quặị phản ánh giới tự nhiên và xã hội loài người, nếu “tiên thiên quái” cho thây hiện tượng lớn là vũ trụ hình thành thì “hậu thiên

Tiên thiên bát quái vạch ra sự đối lập thống nhất tồn tại phổ biến trong thế giới khách quan và quy luật âm dương tiêu trưởng. Có thể lựa chọn các phương pháp dưỡng sinh khác nhau theo quan hệ đối ứng giữa phương vị tiên thiên bát quái và cơ thể.bát quái” cho thấy hiện tượng lớn lồ con người hình thành trong vũ trụ thuận theo sự biến đổi của vạn vật tự nhiên như thế nào. Tíén thiên bát quái là nam Càn bắc Khôn, đống hy tầy Khám, đống bác Chấn, tây nam Tốn, dông nam Đoài, tầy bác Cấn, Càn Khhn đốí xúng, gọi là thiên địa định vị; Khảm Ly đối xứng, gợí là hoả thụỷ bất tương xạ; Chấn Tốn đốí xứng, gọí lá lôi phong tương bạc; Cấn Đoài đối xứng, gọi là sơn trạch thống khí, Càn là dương, dương khỉ nổi lên nên ở trên mà ỡ phía nam; Khốn là âm, Am khí dí xuống nẻn ở dưới mà ở phía bắc; phía đông là nơí mật trời mọc, quẻ Ly ngoài dương mà trong âm ở đó; phía tây là nơí một trời lặn, quẻ Khảm ngoài âm trong dương ở đó; phía đỏng bắc thuộc múa xuân mà sấm dậy, nên quẻ Chấn ở dó; phía tây nam thuộc mùa thu mà gió thối, nên quẻ Tốn ở đó; phía tây bắc nhiều núi, nên quẻ Cấn ở dó; phía đông nam nhiều dám, nên quẻ Đoài ở đó. Càn Khôn ở trẽn dưới, Khảm Ly ở hai bên, Lẽ xuân hạ thu đống ngày đêm nóng lạnh đểu có thể suy ra tử tiên thiên bát quái. Khí tiên thién lả nguồn vạn vật sinh phát, cũng là nguồn lý khí của phong thuỷ. Bất kể dương trạch hay âm trạch, vê bấn chất cũng đều lấy tiên thiên bát quái lảm bản thể, Điểm khác lả tỉm khí bán nguyên của trời đất từ các kênh khác nhau mà thôi.

 

 

Bình luận trên Facebook