PHONG THUỶ VÀ HUYỀN THUẬT PHONG THUY.

1. PHONG THUY VÀ HUYẼN THUẬT PHONG THUY.

Trước hết chúng ta phải bắt đầu từ những khái niệm cho về sau khỏi cắn phải tranh luận về vấn đề này.
1/TRACH: Là một cuộc đất, có ranh giới hoặc không , được sử dụng vào công việc chôn cất, làm mổ mả, nhà mổ hay xây cất nhà cửa , Làng mạc, Thành phố. . Cũng có một số người coi Trạch là dải đất, giống như con lươn trên đê. Riêng người viết chỉ quan niệm đơn giản Trạch là một cuộc đất, vùng đất. Trong Trạch lại được chia ra làm Âm Trạch và Dương Trạch.

2/ÂM TRACH: Là cuộc đất dùng để chôn người chết, còn gọi là Mổ mả. Phong Thủy cho rằng, nếu người chết được chôn vào một cuộc đất tốt về Phong thủy thì sẽ truyền được Phúc ỗức cho con cháu đời sau.
3/DƯƠNG TRẠCH: Là cuộc đất được dùng vào mực đích làm nhà cửa, Đình , Chùa, Miếu mạo, Thôn xóm, làng mạc, Thị trấn, Thành phô. Dương trạch phải hài hòa với Thiên nhiên, có môi trường tốt đẹp, làm cho con người thấy vui tươi , mạnh khỏe, hạnh phúc. Dương trạch tốt tức là môi trường tốt.
4/LONG MẠCH: Mạch là nguồn gốc, là đường dẫn máu đi nuôi cơ thể người ta;Long là con Rồng. Nhưng trong Phong thủy, người ta gọi Long mạch là những dải Núi, dải đất, Dòng sông, dòng nước chảy, nhấp nhô, uốn khúc như Rồng, thoắt ẩn, thoắt hiện. Long mạch có thể chl vài chục cây số, nhưng cũng có thể là vài ngàn cây số.
Long mạch lại được chia ra SƠN MẠCH VÀ THUY MẠCH.
SƠN MẠCH: Là những dải Núi, dải đất đi từ Tổ sơn đến Huyệt. Tổ Sơn là Núi cao, nơi xuất phát Sơn mạch. Dải Núi đi ra khỏi Tổ Sơn gọi là Hành Long. Hành Long lại được chia ra làm CÁN LONG: Là dải Núi chínhđi ra từ Tổ Sơn và BÀNG LONG: Là chi nhánh đi ra từ Cán Long. Long mạch lúc nổi lên thành Núi, đổi , gò , đống, lúc lại chìm sâu vào lòng đất, có khi vượt qua cả những dòng sông.
THỦY LONG : Là các mạch nước dòng sông bắt nguồn từ các Tổ Sơn, chảy theo các Sơn Long. Thủy Long cũng có Cán Long và Chi Long, đổ vào Minh đường rồi thoát ra ở Thủy khẩu tiêu Thủy.
Sơn Long đi thuận theo chiều nước chẩy gọi là Thuận Long. Đi ngược chiều nước chẩy gọi là Hổi Long, đi ngang qua chiều nước chảy gọi là Hoành Long.
Theo cấu tạo Địa chất nước Việt nam ta, nói chung Núi sông chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam (Trục CÀN -KHÔN), do vậy Long mạch thường đi theo trục CÀN -KHÔN, hoặc CÀN -LY là chính. Long đi theo hướng này là thế chính có tính chất rất bền vững, dài lâu. Long thuận thì nước chắu xuống, Long ngược thì nước chắu lên. Thuận nước chầu lên là thế thuận, nước chắu xuống là thế nghịch.
6/THỦY KHÂU: Thủy khẩu là nơi mà nước chẩy vào Minh đường. Chẩy đến gọi là Thủy lai, chẩy đi gọi là Thủy khứ. Nơi nước chẩy vào gọi là Thiên môn, nơi nước chẩy ra gọi là Địa hộ. Dòng nước chẩy đến, chẩy đi tại vị trí Huyệt rất quan trọng, riêng về nó người ta có hẳn một mục là THỦY PHÁP TRƯỜNG SINH, xét đến sự tốt xấu của hướng các dòng nước đối với Huyệt vị.
ĐlEM HUYỆT: Sau khi đã tìm được địa thế hội đủ các tiêu chuẩn của Long mạch, Thủy khẩu, Minh đường, Long -Hổ, Sơn, Chu tước, Huyền vũ. . . , các phương vị sinh , vượng thì cần phải chọn nơi tụ khí để xác định chính xác vị trí Huyệt. Làm như vậy được gọi là Điểm Huyệt.
Điểm Huyệt là công việc vô cùng khó , là việc phải tổng hợp tất cả các kiến thức về Địa lý Phong thủy, các Kinh nghiệm , các pháp của Huyền thuật, cảm giác của Phong thủy SƯ, kết hỢp với La kinh để chọn được vị trí cát lợi nhất cho việc xây cất nhà cửa hay táng Mộ. Cãn cứ vào địa hình, Địa thế có thể lấy đúng giữa Huyệt, lấy ở Huyệt nhánh hay bên cạnh Huyệt.
7/MINH ĐƯỜNG: Theo danh từ , Minh đường là nơi ngày xưa Vua, Chúa tiếp các Bá Quan, Văn -Võ triều bái. Trong Phong thủy, Minh đường là vùng đất phía trước của Huyệt vị. Minh đường cũng được chia ra làm Nội Minh đường, Trung Minh đường và Ngoại minh đường, gọi chung là Tam đường. Minh đường ở trước Huyệt gọi là nội Minh đường. Minh đường được bao bọc bởi hai tay Long -Hổ gọi là Trung Minh đường. Minh đường ở ngoài Án Sơn gọi là ngoại Minh đường.
8/HUYỆT VỊ: Nghĩa gốc của từ Huyệt là hang ổ, sào Huyệt, là ngôi nhà bằng đất, là chỗ châm cứu trên cơ thể con người. Trong Phong thủy , Huyệt là nơi tập trung Khí của Long mạch.
9/ÁN SƠN: Án có nghĩa là cái bàn làm việc của các cụ Đồ Nho ngày xưa (Án Thư). Án cũng co nghĩa là che chắn trước mặt. Án Sơn là núi nhỏ chắn trước Huyệt như cái bàn làm việc trước mặt người ngồi, Án Sơn không được quá cao. Huyệt có Án như Chủ có Khách, Vua có Tôi.
10/TRlỂU SƠN: Triều có nghĩa là đôi diện như Chủ với Khách. Triều Sơn là núi to ở phía xa hơn Án Sơn. Triều Sơn mà hai bên có Thủy lưu kèm theo Triều vào Huyệt là Triều Sơn quý. Như vậy tính chất của Triều Sơn và Án Sơn tương tự như nhau , nhưng khác nhau ở độ cao và tẩm xa.
11/SA SƠN: Là Núi ở xung quanh Huyệt. Trong Địa lý chia ra các Sa (Sơn) như sau: Án sơn, Triều sơn, Thanh long, Bạch hổ, Tả phù, Hữu bật, La thành viên cục, Lạc sơn, Hạ thủ sa, Thủy khẩu sa, cản môn sơn, Hoa biểu sơn, Bắc Thắn tinh, La tinh sơn, Quan tinh sơn, Quỷ tinh sơn, Diệu tinh sơn…
12/THANH LONG (TAY LONG): Thanh long là Núi hay dải đất nằm bên TRÁI Huyệt. Có khi Sơn mạch chạy đến Huyệt rồi phân ra hai nhánh như hai cánh tay ôm lấy Huyệt tạo nên Thanh long, Bạch hổ. Thanh long chủ DƯƠNG, CON TRAI, KHÍ DƯƠNG.
13/BẠCH Hổ: Là Núi hay dải đất bên Phải Huyệt. Bạch hổ chủ Âm, Con Gái, Khí Âm.
Thanh long – Bạch hổ đối với Huyệt giống như chúng ta ngồi trên chiếc ghế có hai tay tựa vậy, hai tay này phải cân đối mới tốt.
14/TẢ PHÙ HỮU BẬT: Là hai trái núi nằm hai bên tả hữu của Huyệt vị. Tả phù hữu bât cắn phải cân xứng về cả độ cao, xa gắn, lớn nhỏ. Nếu không xứng lứa vừa đôi là Huyệt không quý. Người ta gọi tả phù – Hữu bật là Nhật Nguyệt giáp chiếu, hay Văn võ thị vệ. Tả phù hữu bật dịch về phía sau của Huyệt gọi là Thiên ất, Thái ất. Dịch về phía trước một chút gọi là Thiên hồ, Thiên giác. Nếu dịch về phía trước một chút nữa và chụm đắu vào nhau gọi là Kim ngô, Chấp pháp. Nếu nằm ở hai bên Minh đường Gọi là Thiên quan, Địa trực. Nếu nằm ở hai bên Thủy khẩu gọi là Hoa biểu, cản môn.

15/LA THÀNH VIÊN CỤC: Là thế núi bao bọc xung quanh Huyệt vị như tường thành bao quanh trùng trùng điệp điệp, lên xuống nhấp nhô bảo hộ Huyệt vị, tựa như cánh sen ôm lấy nhị hoa. Nếu có điều đó là Huyệt quý.
16/HA THỦ SA: Còn gọi là hạ quan, Hạ tư. Núi nằm bên cạnh dòng nước chảy ra ở bất kỳ phương nào của Huyệt đều gọi là Hạ thủ sa. Hê có Hạ thủ sa là có sự kết phát. Dòng chảy trước Huyệt rẽ về bên nào thì bên đó Hạ thủ. Hạ thủ sa cần trùng điệp, dày đặc, liên tiếp, không được mỏng, nhỏ.
17/BAC THAN SA: Là núi đá dựng đứng ở giữa Thủy khẩu mà có hình thù kỳ quái. Núi Bắc Thần sa rất quý hiếm, thường đi với Huyệt Công hầu , Khanh tướng. Bắc Thần sa càng hùng vĩ càng cát lợi.
18/LA TINH: Là núi nhỏ hoặc gò nổi lên ở giữa Thủy khẩu giống như Bắc Thắn sa. La tinh có thể là núi nhỏ, gò đá hoặc đất, nếu là đá thì tốt hơn là đất. La tinh tròn trặn hay nghiêng vát là tốt. La tinh có bốn bể la mặt nước là tốt. Địa thế Huyệt có La tinh là địa thế Huyệt quý.
18/QUAN TINH: Là núi nhỏ đằng trước Huyệt ở phía ngoài đối diện với Thanh long, Bạch hổ, kéo sơn mạch ra đằng trước.
20/DIỆU TINH: Là tảng đá lớn nhô lên ở hai bên tả hữu của Huyệt. Diệu tinh to lớn và đẹp thì sẽ tạo phú quí lâu dài.

 

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *