PHONG THỦY LÀ NGUỒN TƯỢNG TRƯNG CHO SỨC MẠNH

1. PHONG THỦY LÀ NGUỒN TƯỢNG TRƯNG CHO SỨC MẠNH

Hãy chọn 50 nhánh có thi, dùng 49 nhánh, đem chia ra làm hai đè tượng trưng cho lường nghi, lây thêm một nhánh móc vào đẻ tượng trưng cho tam tài (thiên đìa nhản). Đem sô có thi đà chia làm đòi xêp bòn nhành một tượng trưng cho tứ thời, gom các số lẻ còn lại tượng trưng cho tháng nhuận. Vì năm ảm lịch 5 nãm nhuản 2 làn, tiẻp theo lại thu thập tảt cả các nhánh có thì lại tiêp tục chia lảm 2 như lúc trước đẻ bãt đàu quá ưình thao tác lân thứ 2

Sô cô thì dùng cho quẻ Càn là 216 nhánh, quẻ Khôn lả 144 nhánh. Tòng cộng lả 360 nhánh, tương đương với sò ngày trong một nãm. Kinh Dịch chia thành 2 thiên, trong 64 quẻ cản có 11520 nhánh có thi cũng tượng trưng cho 11520 sò sự vật

Vì vậy trải qua bòn bước tiến hành quẻ “Dịch“, mồi quẻ có 6 hào, cản 18 lân biên CUÒ1 cùng thành 1 quẻ. Bát Quái so với 4 quẻ là số nhô nhung nêu xếp chòng lẻn và khai triẻn thêm sẽ thành 64 quẻ thì tảt cả mọi việc trong thiên hạ đêu bao trùm hẻt thảy

Nói một cách cụ thẻ là phưong pháp bói có thi được chia làm 4 bước :

Bước thứ nhảt là”phản nhi vi nhị”. Ta đem 49 nhánh cô thi dùng đẻ xem bói, tùy ý chia làm hai phản. Tượng trưng thái cực hoàn chinh chia thảnh Thiên (tròi) và Đìa (đàt), tức Lường nghi.

Bước thứ hai lả ‘quái nhảt dĩ tượng tam”. Lay ra một nhánh từ trong sỏ cô thi đầ phản làm 2 phản, đặt ra một bên. Tượng trưng giừa trời đảt sản sinh ra con người, do đó 49 nhánh cô thi sẽ chia thành 3 bộ phận : Thiên, Địa, Nhản. Quan niệm này rất quan trọng, vì nó đà làm sáng tó các nhả hiền triết cò xưa đà nhận thức đày đủ sự tòn tại và giả trị tòn tại của bản thản minh.

Bước thứ ba là “điệp chi dì tứ”. Điệp chỉnh là đèm các chừ sỏ, đem sò cô thi đà chia làm 2 phán cứ 4 nhánh một, 4 nhánh một đè đèm, lảm như thè là tượng trưng Tứ thời. Điẻm này chi rồ sự nhận thức của “Kinh Dịch” đòi với thời gian.

Bước CUÒ1 cùng là “quy kì vu lịch”. Quy lẽ là các số dư lại sau mỗi lẩn đêm đèu đặt ra một bèn. Phải đem các sò dư cũa cả 2 phản gom lại, sau đó lại đèm 4 cái một. Tác giả “Kinh Dịch” đã giải thích cách lảm này là đẻ “lập nhuận”, tức tháng nhuận.

Đèn bưõc này là đà làm được “một dịch”, tiếp theo cũng theo phương pháp tương tự còn phải làm 2 lán nữa, tức “tam dịch” mới có thẻ được một hào. Một quẻ có 6 hào, cho nên phải trải qua 6 làn “tam dịch” mới tạo thành một quê.

Từ phương pháp bói cô thi phán tích ta thấy bói cô thi đà thay thể bói rùa, không thẻ lí giải một cách giản đơn rãng đó là sự tièt kiệm con vật, mà ý nghĩa chán chính của nó lả việc sư dụng sò và lịch pháp. Nhận thức của ‘Kinh Dịch” đối vói ười, tức đối với quy luật tự nhiên đà từ quan trăc hiện tuợng phát triẻn thành tính toán băng sô.

Việc vận dụng kẻt hợp lịch pháp với phương pháp bói cô thi đà đưa trình độ nhận thức cũa “Kinh Dịch” tien thèm vẻ phía trước một bước khá xa. Nhận thức lí tính của các nhà hiền triểt Trung Quòc đoi với tròi được bát đàu từ lịch pháp: ỡ thòi vua Nghiêu, các nhà hiền tnểt Trung Quôc đà bièt quan sát hiện tượng đẻ báo thòi gian chuản. Lích pháp trước thời vua Nghiêu gọi là Hôa lịch, vê sau phát Ưiẻn thành lịch Mặt trời, Hòa vả Mặt trời (Thái dương) đêu là sao. Quan sát hiện tượng đà sản sinh lịch pháp, sản sinh ra nhận thức lí tính đối với thiên thòi.

Tác giả cũa “Kinh Dịch” vận dụng lịch pháp đà tó ra họ xem giới tự nhiên trong trời đất là khách thẻ độc lập ỡ bên ngoài bản thản minh. Nhận thức này là nhận thức duy vật đòi với thẻ giới. Vi thể có thẻ nói thẻ giới quan của ‘Kinh Dịch” cũng là thẻ giới quan duy vật.

I “Liên son”, “Quy tàng” và “Chu dịch”

Bòn yêu tò tạo thành “Kinh Dịch” là: cô thi, quái (quẽ), hào và tử. Các thuật sĩ đời nhà Hạ đà có còng hiên chưa từng có trong lịch sữ đòi với việc xảy dựng “Kinh Dịch”.

Do thời nhà Hạ, Trung Nguyên đà xuảt hiện cục diện thông nhất lảu dải. Trong hoàn cảnh xà hội òn định này, học thuật đà phát triên một cách ung dung. Các thuật sĩ đà thu lượm tư liệu của các bộ lạc, kinh qua chinh lí thòng nhát, thèm bớt và CUÒ1 cùng đà biên soạn thành bộ sách xem bói toán có quẻ, có từ đàu tiên trong lịch sữ, có tên là “Liên sơn”. Đảy chính là Hạ Dịch (Kinh Dịch thời nhà Hạ).

Sách “Liên sơn” lấy quẻ cẩn làm quẽ đâu tiên, tượng trưng “nhừng đám mảy xuất hiện ưẻn núi, liên miên không ngớt”.

Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương diệt vong, các thuật sĩ nhà Thương đà không băng lòng dùng Hạ Dịch. Họ dựa vào nhừng nghiên cứu cùa mình, tức nhừng kiên thức cũa bộ lạc của

chinh họ đà chinh đòn lại Hạ Dịch và định ra Thương Dịch mang tên “Quy tàng”.

Sách ‘Quy tàng” lại lây quẻ Khôn làm quẻ đàu trong 64 quẻ, tượng trưng cho “Vạn vật không có cải gi không chứa đựng ỡ trong đó”.

Đèn đời nhà Chu, “Kinh Dịch” lại phát sinh một làn đòi mới nừa. Nghe nói Chu Vãn Vương chính là người rảt tinh thòng “Kinh Dịch”, óng đà từng bị vua Trụ giam nhiều năm ỡ trong ngục, ỡ đó, òng chuyên tàm nghiên cứu 64 quẻ, đông thời đà viết ra quẽ từ vả hào từ cho từng quẽ. Đợi mài sau khi ông đánh bại vua Trụ, xây dựng nên Vương triều của mình, thành quả nghiên cứu cùa ông lúc đó mới trơ thành vãn hiên kinh điên của quòc gia. Đó chính là “Chu Dịch”.

“Chu Dịch” lảy quẻ Càn làm quẻ đâu, đà phản ánh một bước nhảy vọt vĩ đại nừa về quan niệm của các nhà hiển triêt Trung Quòc đương thời. An Thương lẩy quẽ Khôn trước rồi mới đèn quẽ Càn là thử, lả COI trọng mầu hệ, còn người nhà Chu lại lảy Càn đàu, Khôn thứ là COI trọng phụ hệ. Các sách “Liên sơn”, “Quy tảng” đêu đà thất truyền. Hiện nay “Kinh Dịch” mà chúng ta bàn đèn, chinh là quyến sách quòc bản của nhà Chu.

Nêu nói Phục Hi vẽ ra Bát quái là hình thức ban đẩu của nền văn hóa Trung Quốc, Vãn \’ương phát triên Chu dịch sẽ lả mỡ đâu cùa nên vãn hóa Trung Hoa.

“Dịch đạo thâm, nhản cách tam thánh, thẻ lịch tam cò”.

“Kinh Dịch” không nhừng là bộ sách kinh điên cò xưa nhẩt của Trung Quổc, mà tử xưa đèn nay nó còn được tòn sùng hết mức, còn được gọi là “Quẩn kmh chi thủ”.

Con người trong vũ trụ biên hóa khôn lường, sinh tòn và phát trien ra sao, trong xà hội cơ hội và duyên phận phải liệu trước, làm thè nào đè làm nên sự nghiệp. “Kinh Dịch” dùng tri tuệ độc đáo của phương Đỏng, ngứa lẻn xem thiến văn, nhìn xuống xét đìa lí, ơ giữa thông hiểu “vạn vật chi tình”, nghiên cửu sự giao lưu giừa con người với thiến nhiên, tìm hiểu đạo lí vĩ đại “tat biển, sỡ biển và bất biển” của đời người, làm sáng tô quy luật “tri biên, ứng biến, thích biên” của đòi người. Đày chính là nhừng cho vĩ đại của Kinh Dịch”.

Vì vậy, chúng ta có thẻ xem “Kinh Dịch” là mò thức nhận biêt của các nhà hiển triẻt Trung Quôc đòi với vũ trụ vạn vật bao la và cuộc sòng của con người cơ may khôn lường.

64 quẽ của “Kinh Dich” tượng trưng cho các hiện tượng của tự nhiên hoặc nhản sự tại một thời điểm nào đó trong quá ưinh biên đòi không ngừng. \T thế, ý nghía của “Kinh Dịch’ là vò cùng COI trọng thời gian. “Thời” nói trong “Kinh Dich” lả nhừng tình huòng của con người trong khi đâu tranh, khi vui sướng, khi khôn khó, khi đau khó v.v…

‘ Kinh Dịch” nói đèn thời gian, tòn trọng “thời trung”. Học giả đời Thanh lả Huệ Đòng nói “dich đạo thảm, nhảt ngôn dĩ tể chi, viết thời trung”. (Đạo lí “Kinh Dịch” rât sâu sắc, nhưng nói tóm lại là “thời trung”). Không Tữ viẻt “Thoán truyện” nói vê thời có 24 quẽ, nói về trung có 35 quẻ ; “Tượng truyện” nói vê thời có 6 quẽ, nói vè trung có 38 què. Tữ Tư viêt sách “Trung Dung” kẻ lại nhừng lời nói của Không Tữ răng : Quản tữ mà thời trung ; Mạnh Tữ lại nói: “Không Tử, bậc thánh bàn về thời. Là phép tãc cùng truyền lại tữ thời Nghiêu Thuản trớ lại đây. Hièu biẻt được nghĩa của thời trung là đă nắm được Dich quá nửa vậy !”

Từ đó ta thày sự COI trọng của “Kinh Dịch” đòi vói nhân tò thòi gian và nguyên tãc trung dung. NÓI cách khác, thời trung sẽ là trạng thái tòt đẹp nhất của sự vật hoặc nhân sự.

Hiéu được quy luật của thiên thòi mới có thê “an mệnh”, thông hiếu nguyên tãc của trung dung mới có thẻ “thành dĩ’. Tác giả của “Kmh Dịch” đà chi bảo cho người đời sau rãng : con người sinh ra ỡ đòi, kill lập thân chính nghiệp cản phải giác ngộ đạo lí “thành dĩ an mệnh”. Sáng tó phép tảc của thiên địa, nghiên cứu đạo lí của âm dương, tu chinh đường tính mệnh, rữa lòng nghiên ngẫm thời cơ, làm sáng tô điêu đức mới, thì mói mong hiển đạt giàu sang.

I Xem bói “Kinh Dich” : Thái đỏ xử thế tích cưc

Các bậc tiền bối cũa chúng ta, trong cuộc đàu tranh với thiên nhiên đằ phát minh ra chiêm bốc.

Y nghĩa của chiêm bốc ỡ cho, nó không nhùng là vì sự sinh tòn mà còn là vì sự sinh tòn ngày càng tôt đẹp hơn. Có rất nhièu người phản đôi chiêm bỏc. Một trong sò nguyên nhân của nó lả họ cho rãng chiêm bôc là kèt quả của tâm lí tiêu cực tự mình hạ thảp. Trong nòi nghi hoặc và khủng khiẻp của cuộc đâu tranh với thiên tai của thiên nhiên, con người thường cảu xin một sức mạnh siêu nhiên ngoải bản thản minh đẻ giúp đõ mình, do đó mới đi chiêm bóc (xem bói).

Trước khi ‘Kinh Dich” ra đời, các nhà hiên triêt Trung Quòc đà phát minh ra nhiêu phương pháp chiêm bôc. Cản cứ xem các hiện tượng trong sách “Sơn hải kinh” đà tô ra dưới thời Đường Ngu hoặc Trọng Lẻ đà từng có các phương pháp chiêm bôc như xem biêu tượng động vật, xem biêu

Tin tức liên quan

  1. Khí âm dương

  2. Làm thế nào để chọn tầng nhà thích hợp với bản thân?

  3. Giá sofa cho phòng khách nhỏ xinh bạn nên biết

  4. Mẫu kệ tivi dàn âm thanh độc đáo cho phòng khách hiện đại

  5. Mẫu nhà 3 tầng 1 tum đẹp

  6. Cung Hướng Có Ảnh Hưởng Lớn Đến Phong Thủy

  7. Ghế sofa kiểu Nhật độc đáo mà chắc chắn bạn không thể bỏ qua

  8. Bố trí một cãn nhà khoẻ mạnh cần chuẩn bị những yếu tố gì?

  9. Thập nhị trượng pháp

  10. Các loại cây có tác dụng làm sạch không khí

  11. ĐIỀU TỐI KỴ TRONG KINH DOANH CỬA HIỆU

  12. Phong thủy và giường ngủ

  13. Lựa chọn âm dương địa lý để xây dựng

  14. Thiên đường ghế sofa da tại Hà Nội

  15. Thiết kế nội thất sang trọng dưới 50m2

Sản phẩm hot

  1. TÁP ĐẦU GIƯỜNG HIỆN ĐẠI NHẬP KHẨU 3323B

  2. Giường ngủ giấc mơ bay xa H830-1

  3. SOFA MÀU KEM HIỆN ĐẠI 3 BĂNG GÓC TRÁI MÃ 9191SF

  4. Kệ ti vi 2m4 tân cổ điểm gỗ Gõ Đỏ cao cấp 901K2.4

  5. Tủ 4 ngăn kéo tiện dụng gỗ công nghiệp 23618K4

  6. Tủ rượu 2 cánh gỗ công nghiệp cho phòng khách sang trọng 93605T2

  7. Tủ ngăn kéo A623

  8. Kệ tivi sang trọng phòng khách G8801KT2

  9. Tủ áo 2 cánh xe đua 95 E583

  10. Giường ngủ 1m8 cao cấp nhập khẩu HĐ908BA

  11. BÀN PHẤN GỖ CAO CẤP HIỆN ĐẠI 3303C

  12. BÀN ĂN GỖ CHỮ NHẬT HIỆN ĐẠI 1802BA

  13. Bàn ăn mặt đá chân gỗ nâu T0513032-1

  14. Cây móc áo 2851

  15. KỆ TIVI NHẬP KHẨU 1903KT

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Địa chỉ siêu thị showroom nội thất gia khánh diện tích 5000m2 lớn nhất Hà Nội