KIẾN TRÚC SƯ ARATA ISOZAKI,THÀNH PHỐ TRÊN KHÔNG

1. KIẾN TRÚC SƯ ARATA ISOZAKI,THÀNH PHỐ TRÊN KHÔNG

Vai tư cách là một thành viên trong nhóm Chuyển hóa luận, các đồ án của Isozaki trong những năm đầu thập kỷ 1960 đã đánh dấu một bút pháp sáng tạo kiến trúc của chủ nghĩa “không tưởng kỳ thuật” Nhật Bản. Đồ án Thành phố trên không (1962) là một ưong ví dụ tiêu biểu cho xu hướng kiến trúc mà ông tham dự nhiệt tình.

Trong đồ án này, Isozaki muốn tổ chức một thành phô’ nổi với không gian ở và làm việc được bô’ trí trên cao, trên những chiếc cột lớn bằng bê tông cốt thóp hình trụ có đường kính lớn hơn mười mét, bên trong là hệ thống giao thông và các công trình kỹ thuật.

Không gian sát mặt đất được giải phóng để dành cho cây xanh và các hoạt động giao tiếp xã hội. Theo tư tưởng chuyển hóa luận, những chu kỳ biến động phát sinh trong các giai đoạn tiếp sau do các nhu cầu sử dụng không gian của xã hội, sẽ được thực hiện nhờ sự phát triển các không gian sử dụng bằng cách lắp dần các dầm và console tương tự thông qua các khớp nôi, không gian bên trong cùng có thể biến đổi dể phù hợp với những yêu cầu mới.

Tuy nhiên, ông vẫn không đánh mất dấu ấn hình học như là chuẩn mực của kiến trúc. Isozaki đặt các cột móng công trình của mình theo dạng của những hình tròn và vuông, ông đâ kiên trì với những hình thức này bắt đầu từ BẢO TÀNG GUNMA (1970). Những hình thức hình học linh hoạt một lần nữa xuất hiện ưong những đồ án gần đây nhâ’t của ông, bao gồm Disney Building và Gian hoà nhac ở Kyoto và Nara. Quan niệm hình học của Isozaki không chì giới hạn trong những hình thức hình học cơ bản mà cả hình bán nguyệt cũng tham dự vào quan niệm này.

KIẾN TRÚC SƯ FUMIHIKO MAKI

Mặ c dầu thuộc về nhóm những người đứng đầu chủ nghĩa Chuyển hóa, Maki đã không tham gia vào những dự đoán không tưởng của Kikutake & Kurokavva. Những tác phẩm của ông được đặc trưng bời không nhiều những hình khối điêu khắc va phát minh kỳ thuật của những người Chuyển hóa luận khác, mà bởi sự trang trọng, một ngôn ngừ cẩn trọng, nó nhắc lại những ảnh hưởng từ các công trình của thầy ông ở đại học Havvard là kiến trúc sư Sert. Với những mặt đứng thanh lịch và lớp bao che có tính chất câu trúc, Maki có thể được xem như thành viên của những nhà Hiện đại mới, là người đã lột tả tính cô đọng của khái niệm Hiện dại. Ông đoạt giải thưởng kiến trúc Pritzker năm 1993.

Xem thêm  Tại sao những ngôi nhà thường phải treo gương chiếu yêu? Nó có tác dụng gì?

SPIRAL BUILDING, Tokyo, 1985

Maki là bậc thầy của nghệ thuật sử dụng “từ vựng ”(vocabulary) trong kiến trúc, kết quả là tạo nên những công trình lịch lãm trong sự hoà nhập tốt với khung cảnh của các đô thị lớn của Nhật Bản. Công trinh Spiral và Bảo tàng nghệ thuật ở Tokyo là một trong những ví dụ đầu tiên của điều này.

Trong công trình này Maki đã cho thấy sự kết hợp nhiều hlnh thức vừa tinh tế lại vừa lộn xộn trong kiến trúc. Không chỉ dừng lại ở các biểu hiện hình thể, rất nhiều thứ công năng khác nhau đã được “ghép” vào bên trong công trình này, đó là: các nhà bảo tàng, quán sách, quầy bar, tiệm ăn, căn hộ, cửa hàng quân áo phụ nữ và thời trang,…

TEPIA, Tokyo, 1988

Nhân mạnh các đường nét- hlnh học trong một số công trình như Tepia, Spiral Building (1985), tác giả đã cố gắng thổ^ìiện một thực tiễn kiến trúc đa công năng như một thách thức của thời đại.

TOKYO METROPOLITAN GYMNASIUM, 1990

Kết hợp việc ứng dụng những kỹ thuật tân tiến nhất trong việc xử lý các lớp mái (được xử lý bằng phương pháp điện phân anod) với hình thức kết cấu khung thép vượt khẩu độ lớn, công trình này là một dâu ấn đặc sắc của kiến trúc Hi – tech ỏ Nhật Bản. Tuy nhiên, việc gia công một cách tỉ mỉ lớp mái có hình thể phức tạp này phải nhờ đến nghệ thuật thủ công truyền thông của những người thợ gò kim loại đà cho thây vẻ đặc sắc của sự kết hợp giữa nền công nghệ cao với đặc điểm truyền thống, tạo nét khu biệt giữa Hi – tech ở Nhật Bản với Hi – tech ở các quốc gia khác. Mặt khác, hình tượng mà nó vạch ra trong không gian làm ta liên tưởng tới chiếc mũ của các võ sĩ đạo trong truyền thông, hay hình ảnh của một chiếc đĩa bay lóng lánh bằng kim loại.

MỘT sô’ ĐẶC ĐIỂM TRONG SÁNG TÁC CỦA MAKI

Sử dụng những đường nét hình học với những xử lý tinh tế.

Tìm hình tượng kiến trúc ở những gì không ổn định (đám mây, hình tượng của tự nhiên,…). Việc tạo dáng mái cho một số công trình kiến trúc thể dục thể thao là một ví dụ.

Xem thêm  Các Kĩ Thuật về xây tường có cửa sổ

* Cho rằng thành phố hữu hình hơn, còn các công ưình kiến trúc đơn lẻ là những mảnh vỡ của đô thị.

CÁC HỌC THUYẾT KIEN trúc của KISHO KUROKAWA

Sự xuất hiện của học thuyết cộng sinh trong kiến trúc được mỏ đầu bằng sự ra đời của phong trào Chuyển hoá luận (metabolism) ở Nhật Bân những năm 1960. Xét về mặt xã hội đó là một sự phê bình kiến trúc và chì trích xã hội hiện đại được phân tích từ những triển vọng của kiến trúc trong thời đại bùng nổ thông tin và khoa học kỷ thuật.

Kurokawa, là người đã nắm bắt được bản chất thực của Chuyển hóa luận, những tác phẩm của ông được coi như nhffng kiểu mẫu cho những khát vọng của phong ưào với những ân tượng sâu sắc về sự gắn bó giữa khoa học và sự hư cấu (fiction); những bài viết của ông đã khẳng định cơ sờ vững chắc cho những người theo chủ nghĩa Chuyển hóa. Vận dụng các nguyên tắc m’êm mại, linh hoạt của tư tưởng Phật giáo, Kurokawa đề xướng trước tiên lý thuyết Chuyển hóa luận (metabolism) như một cách diền đạt mới các “vồng đời” của các công trình kiến trúc trong cái chu kỳ vô tận của sự sinh sinh – hóa hóa mà Phật giáo coi là một nguyên lý bất diệt.

Những ý tưởng (fâu tiên của Kurokawa được trình bày trong đồ án Wall Cluster (1960) và Helix City (1961). Luận điểm của học thuyết Chuyển hóẩ đã được chứng minh một cách thuyết phục nhất trong những capsule ỏ tòa tháp Nagakin ở Tokyo (1972) đầy lôi cuốn của ông. ở đó phản ánh sự biến đổi của con người và kỹ thuật. Trong tòa nhà này ông đâ có những đề xuất hết sức thông minh và táo bạo, để chứng minh những luận điểm này là hoàn toàn hiện thực trong kiến trúc hiện đại. Đỏ là ngôi nhà có các bộ phận hết sức linh hoạt, chúng dường như có thể thay đổi được, trong khi ông trụ kỳ thuật lại là một thành phần cô” định, đảm bào cho các hoạt động trong ngôi nhà đưực thực hiện một cách thông suốt.

Là một kiên trúc sư, ông đà dành sự chú ý đặc biệt cho việc nghiên cứu về sự cộng sinh vãn hóa trong kiến trúc mà những biểu thị cơ bản của nó bao gồm sự cộng sinh giữa văn hóa phưí/ng Đông và van hóa phương Tâỵ, giữa quá khứ và hiện tại, giữa không gian bên trong với không gian bên ngoài, là những khía cạnh mà kiến trúc Hiện đại đă bỏ qua. Xuất phát từ quan niệm đó, Ông chủ trương kiến trúc không nên được thiết kế rõ ràng về không gian, mà phải tạo ra ở đấy những yếu tô’ nhập nhằng và tối nghĩa. Công nghệ và con người trong mối quan hệ “cộng sinh” thì không tồn tại ở thế đốì lập, mà phải ừong sự tương tác hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển, trong mốỉ quan hệ này thì công nghệ phải trở thành usự mở rộng của con người”.

Xem thêm  Những công trình kiến trúc Hy Lạp cổ điển nổi tiếng thế giới

Kể từ lần đầu tiên những ý tưỗng về cộng sinh được đề cập, ngày nay nó đã trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực và ưở thành một khái niệm thông dụng trong lý luận cũng như thực hành thiết kế kiến trúc và là một đóng góp tích cực vào kho tàng lý luận của kiến trúc.

hfên táng triết học sâu sa của học thuyết cộng sinh được bắt nguồn từ văn hóa truyền thống của Nhật Bản, đó thực chất là một nền văn hóa dựa trên sự dung hợp, hòa trộn của nhiều tử tưởng triết học và tín ngưỡng khác nhau như Phậĩgiáo (có vai trò then chốt), các tư tưởng Khổng, Lão và tín ngưỡng Thần âạo.{Shintó) của cư dân bản địa. Nhưng có lẽ chính các tư tưởng vê tính luân hồi (samsara) của Phật giáo là những gợi ý quan trọng nhất cho việc hình thành triết lý cộng sinh trong kiến trúc của Kurokawa. Điều này trùng hợp một cách khá tự nhiên với quan niệm cơ bản ưong triết học của người Nhật Bản là “điều này thì cũng tương tự như những điều khác”.

Trong nhiều trường hợp, cộng sinh hoàn toàn có ý nghĩa của sự cùng tồn tạj, sự thoả hiệp hoặc là sự hài hoà, Cộng sinh còn có thể là tình trạng trong đó hai yếu tô’ đối lập hoặc thậm chí có thể chông lại nhau, cùng vẫn phải cần đến nhau. Điều này đã giải thích tại sao xã hội Nhật Bản luôn có sự chấp nhận dễ dàng các điều kiện mới, ví như sự gia tăng mức độ hỗn độn trong các thành thị, cũng như sự tiến triển vượt bậc của khoa học – kỹ thuật.

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Địa chỉ siêu thị showroom nội thất gia khánh diện tích 5000m2 lớn nhất Hà Nội