Khí âm dương

233. Tại sao ở thời kì Tây Chu dùng khí để giải thích âm dương?

Âm dương từ một danh từ phổ thông để biểu thị thòi tiết phương hướng, trỏ thành một quan niệm âm dương trong triết học tức là âm dương được tưởng tượng thành hai thứ “khí”trong vũ trụ.

Sách “Quốc Ngữ” có viết: Chu Tuyên Vương cử hành lễ tịch điền, sau đó “khí dương bốc lên đất đai chấn động”, “âm dương phân bố sấm sét nổi dậy”. Bá Dương Phụ giải thích nguyên nhân động đất vào năm thứ hai đồi Chu Vương như sau: “Khí dương ẩn mà không bốc lên được, khí âm bị ép xuống không hóa giải được vì vậy mà có động đất”.

Có thể thấy, từ thời kì Tây Chu đã có sự ghi chép rõ ràng về hai khí âm dương. Trong sách “Lão Tử” có nói về âm dương : “muôn vật dựa vào khí âm mà bao bọc khí dương” cũng là nói về hai khí âm dương. Sách này ra đời tuy muộn trong đó bao quát không ít quan niệm triết học nguyên thủy đơn giản.

Âm dương bao gồm ba lốp ý nghĩa: trời râm và trời nắng, hướng về âm và quay lại với dương, âm khí và dương khí. Trong thời kì Tây Chu ba lớp nghĩa này đều cùng tồn tại.

Hai khí âm dương ngoài việc dùng để giải thích các hiện tượng tự nhiên như động đất, sấm chớp, sương tuyết còn được coi là cơ sỏ hình thành cả vũ trụ. Muôn vật trên thế giới đều có thể chia thành âm dương chứ không chỉ giới tự nhiên mà thôi, thời gian không gian và toán học cũng như thế, con người và xã hội con người cũng luôn như thế. Ví dụ trời (càn) thuộc dương, đất (khôn) thuộc âm; mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm; trên thuộc dương dưới thuộc âm; xuân hạ thuộc dương, thu đông thuộc âm; đông nam thuộc dương, tây bắc thuộc âm, trái thuộc dương phải thuộc âm sô’ lẻ thuộc dương sô’ chẵn thuộc âm, giông cái thuộc âm giông đực thuộc dương, nam thuộc dương nữ thuộc âm; trong quan hệ loài người: bô’ và con, chồng và vợ ; vua và tôi, sang và hèn; thậm chí các tập tục trong xã hội như lễ và nhạc , nhân và nghĩa, cương và nhu… đều có mối quan hệ tương hỗ đôi ứng với âm dương. Đúng như sách “Liệt Tử” có viết: “đạo trời đất chẳng phải âm thì là dương”. Như vậy là đã hình thành sự phân loại nhị nguyên đôi với vạn vật được gọi là “quan niệm vũ trụ phân loại nhị nguyên”. Đó chính là một dạng quan niệm vũ trụ thường thấy ở thời cổ đại

  1. Quan điểm tự nhiên hữu cơ đời cổ có phải là vũ trụ quen “thiên nhân hợp nhất ”hay không?
Mặt trờiMặt trăngCác vì sao
GióSấm chớpMưa
ThúHoaChim
NgườiSâu bọ

Mỗi một tác phẩm về Phong thủy học đều lấy “sinh khí” làm chủ đề. Bởi vì theo “Dịch Truyện” thì “núi sông thông nhau bằng sinh khí”, mặt đất tràn ngập sinh khí, sinh khí dự báo sức sống đại diện cho sự hưng thịnh, trong sách “Kinh Dịch”thuộc đại cát . cả một nền Phong thủy học đểu lấy khí lụn làm chủ đạo, lấy sinh khí làm mục tiêu tìm hiểu và phát triển. Bân thân học thuyết “đại địa sinh khí” chính là phản ánh quan điểm tự nhiên “đại địa hữu cơ”. Chỉ từ tiền đề quan điểm tự nhiên “đại địa hữu cơ”thì sự phát triển của Phong thủy học mới có giá trị và tính khoa học của học thuyết này ngày nay càng được sự chứng thực của khoa học.

Điều chú trọng trong quan niệm tự nhiên hữu cơ là mối quan hệ giữa con người và môi trường cũng chính là vũ trụ quan “thiên nhân hợp nhất” truyền thống của Trung Quốc. Quan điểm này nhấn mạnh sự hài hòa giữa con người và tự nhiên chủ trương: “nơi ở của con người nên lấy núi sông mặt đất làm chủ”. Đó cũng tức là nói con người cần thuận theo đạo trời lấy tự nhiên làm gốc. Con người chỉ có thể chọn lựa môi trường tự nhiên thích hợp mới có lợi cho sự sinh tồn và phát triển của chính mình. Quan điểm tự nhiên hữu cơ này vừa là trung tâm tư tưởng phong thủy lại là tinh hoa truyền thông Phương Đông, Phùng Nguyên.

Mô hình thiên nhân hợp nhất luôn chú ý từ từ góc độ chỉnh thể để nhận thức và nắm bắt thế giới. Đem con người và thế giới tự nhiên hợp thành một chỉnh thể cảm ứng lẫn nhau

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Địa chỉ siêu thị showroom nội thất gia khánh diện tích 5000m2 lớn nhất Hà Nội