“Đồ Trạch thuật” và “Kham Dư chí quý” có liên quan gì đến nhau?

275. “Đồ Trạch thuật” và “Kham Dư chí quý” có liên quan gì đến nhau?

“Kham Dư chí quý” đã bị thất lạc từ rất sớm, nội dung của nó ra sao không phải ai cũng biết. Nhưng người ta suy đoán “Đồ Trạch thuật” là một trong những nội dung chủ yếu của quyển thư này.

Xem thêm: ban ghe sofa ha noi

Điểm mạnh lý luận của “Đồ Trạch thuật” là mốĩ quan hệ giữa căn nhà với họ tên của chủ nhà, nền tảng lý luận lại căn cứ vào nguyên lý tương khắc tương sinh của khí trong ngũ hành. Đây cũng là một trong những nội dung của yếu của “Kham dư chí quý”.

276. “Cung Trạch địa hình” là bộ phong thuỷ thư dạng nào?

“Cung Trạch địa hình” là bộ phận liên quan đến tướng địa và tưống trạch, có thể gọi nó là thuỷ tô của lý luận hình pháp phong thuỷ. Nội dung bàn đến việc lựa chọn địa hình tự nhiên để định thành phô”, cung thất. Điều đáng tiếc là bộ sách này đã bị thất truyền. Người ta chỉ có thể suy đoán nó là một bộ sách tổng kết kinh nghiệm khảo sát sơn thế, địa hình để chọn lựa vị trí xây dựng thành phô”, cung thất từ thòi Xuân Thu – Chiến Quốc.

Xem thêm: sofa ban ghe phong khach

277. Sách tướng địa thời nhà Tuỳ nội dung chủ yếu là gì?

Lý luận phong thuỷ từ thòi Nguỵ – Tấn đến Nam – Bắc Triều đã sơ bộ hình thành khung lý luận. Đến thời nhà Tuỳ có sự phát triển nhất định, sách vở đề cập đến tưống địa có rất nhiều. “Tuỳ Thư – kinh tịch chí tam” có 13 bộ. Nhưng phần nhiều có nội dung lý luận “Ngũ hành sinh khắc” như Ngũ âm, Ngũ tính, Ngũ tính mộ đồ đồ, Ngũ âm tướng mộ thư. Tuy nhiên, lý luận “sinh khí” vẫn chưa phát huy hết nên về căn bản phong thuỷ thời Tùy không có nét đột phá.

Xem thêm: sofa bed cao cấp

278. “Linh Thành tinh nghĩa” là tác phẩm nào?

“Linh Thành tinh nghĩa” là văn hiến lý luận tổng hợp của phái hình thế và phái lý khí. Quyển thượng luận bàn hình khí, chủ yếu là hình thế của núi non, biện long biện huyệt và cho rằng đại địa vô hình ắt sẽ xem khí khái, tiểu địa vô thế sẽ xem tinh thông. Thuỷ thành hình, sơn thượng chỉ; thuỷ thành hình, thuỷ trung chỉ. Long là địa khí, thuỷ là thiên khí. Quyển hạ luận bàn về lý khí, chủ can thiên tinh quẻ sinh khắc cát hung.

Xem thêm: các kiểu sofa hiện đại

Toàn bộ tác phẩm chủ nguyên vận‘thuyết, cho rằng vũ trụ có đại quan hợp, quyết định khí vận. Địa vận có di chuyển thì thiên khí cũng đi theo. Thiên vận có xoay ròi thì địa khí cũng ứng. Sáu mươi năm là một nguyên, phôi vối Lạc thư cửu cung, cứ ba nguyên là một tuần, ba tuần 540 năm là một vận. Mỗi nguyên 60 năm là đại vận, 20 năm là tiểu vận. Từ quy luật này ta suy ra vượng tướng hung cát của địa khí. Ví dụ thượng nguyên giáp tý Nhất Bạch tư vận thì Khảm sẽ đắc vượng khí, Chấn Tôn đắc sinh khí, Càn Đoài thoái khí, Li đắc tử khí, Khảm Cấn đắc quỷ khí. Đại vận là 1 nguyên (60 năm); 1 tuần (180 năm); một vận (540 năm).

Từ đó suy ra thuyết nguyên vận khởi nguồn từ Mục Giảng Tăng (người Ninh Ba – thòi đầu Minh). Mục Giảng Tăng vốn là tiến sĩ Nguyên mạc, sau này làm tham mưu cho Trần Hữu Kinh. Thời đầu Minh sông ẩn cư, chủ yếu xem tướng trạch cho quan tộc.

Xem thêm: mua sofa o dau

279. ‘Thôi quan thiên” có liên quan gì đến Long huyệt sa thuỷ?

“Thôi Quan thiên” là tác phẩm của Lại Văn Tuấn đời Tống.

Quyển một là “Bình long thiên” được chia ra thành Bình âm long, Bình dương long và Bình huyệt.

“Bình dương long” viết: Dương quyền đôn phục phong yếu khởi, âm quyền sa thuỷ lai tương nghênh, thiết kỵ canh tinh cao chiếu huyệt, cô bồn thứ đệ tai tướng nhưng.

Bình huyệt chia thành Hợi, Cấn, Tân, Tốn, Chấn, Canh, Đinh, Bính, Đoài, Li, Nhâm, Khảm, Quý, Khôn, Càn, Tuất, Dần, Giáp, Thìn, Thân, Tỵ, Mùi, Sửu, Ât huyệt. Ví dụ ất và Khôn âm dương tương kiến thì sẽ có phú quý.

Quyển hai là “Bình sa thiên”, viết: “Thôi quan chi sa duy tứ phương, vân tiêu khấp lập quan tước cường. Tứ duy đệ phong điệp điệp khởi, thiên thương vạn tướng huy châu li”.

Cuối sách còn có câu quyết: “Huyệt cao triều lưu yếu trường viễn, phú quý dịch chí nhân an khang, triều lưu cao đệ dữ huyệt đẳng, tụ phát quan quý phi vi nạn”.

Trọng điểm của toàn bộ quyển sách là luận bàn về “long”. Long phân âm dương theo 24 sơn, lấy Chấn – Canh – Hợi là cát, Tôn – Tân – Cấn – Bính – Đoài – Đinh là lục tú, ứng theo hung cát. Huyệt, sa, thuỷ đều chịu sự khống chế và quyết định của “long”.

Bình luận trên Facebook