Đặc tính cơ bản của Ngũ hành là gì?

1. Nam hành tinh lớn tương tự Ngũ hành trong thời cổ đại, tại sao?

Trên thực tế Ngũ hành chính là bắt nguồn từ nám hành tinh lốn. Nhưng cùng vái sự phát triển của nhân loại chúng ta đều biết các hành tỉnh lớn không phải chỉ có 5 hay là 9 mà là rất nhiều. Nhưng trình độ khoa học của người xưa có hạn, chỉ dùng mắt thường để quan sát bầu tròi nên chỉ nhìn thấy 5 hành tinh lớn tức là sao Thần (Thủy tinh), sao Thái bạch (Kim tỉnh), sao Huỳnh hoặc (Hoả tinh), sao Tuế (Mộc tánh), sao Chấn (Thổ tinh). Người ta cho rằng 5 hành tinh lớn đó là do tinh khí vận hành trong vũ trụ sinh ra, chuyển động có quy luật và có quan hệ mật thiết vối khí hậu nên gọi là Ngũ hành.

2. Đặc tính co bản của Ngũ hành là gì?

Cản cứ vào kinh sách thời Tiên Tần và Hán thì ngũ hành có những ý nghĩa sau

Ngũ hành là chỉ 5 thứ vật chất cơ bản tức là kim loại, gồ, nước, lửa, đất.

Ngũ hành là chỉ 5 nguyên tố cơ bản tạo thành vũ trụ.

Ngũ hành là chỉ õ hành tinh lốn.

Ngũ hành là chỉ 6 loại khí, đó là: Phong, Hỏa, Thấp, Táo, Hàn, Thử.

– Ngũ hành là chỉ đặc tính của 5 loài vật chất cơ bản: Đó là khải niệm và ý nghĩa triết học đẫy đủ eúa ngủ hành; tức là: Nước luôn chay xuống, Lửa luôn bốc nên, Gỗ có cong có thang. Kim loại có thể cắt vật, Đất có thể trồng cây.

Ngũ hành tương sinh và tương khác

Tại sao Ngũ hành có thể “tương sinh” cùng chiểu?

Học thuyết Ngũ hành cho rằng: Giữa Ngữ hành có quy luật tương sinh, tương khắc. Tương sinh có nghĩa là cùnh nhau thúc đẩy. bổi đắp để âmh trưdng. Trong quan hệ tương sinh bao gồm sinh rạ và được sinh ra, the là thuận chiều và ngược chiều. Tại sao Ngù hành lại có thể tương sinh cùng chiểu? Người sưa cho ràng nước có thể tưới mát cây CÒI sinh ra gỗ; Gỗ đốt Lên có thể sinh ra lửa; Lửa có thể đốt các vật thành đất; Từ trong đất có thể tìm thấy kim loại; Kim loại lạnh có thể làm ngưng đọng sinh ra nước; Trong Ngũ hành duy nhất có kim loai gàp nhiệt dô cao chảy thảnh chất lổng – Như vậy đã hình thành một vồng tròn mang tính thúc đẩy.

3. Tại sao ngũ hành lại tương khắc gián cách?

Tương khắc có nghĩa là sự khống chế, hạn chế, ức chê. Trong quan hệ tương khắc cũng có khắc và bị khấc tức là tương khắc xuôi chiểu và ngược chiều. Tương khắc nghịch chiều còn gọi là phản lại, tức là giữa Ngũ hành có sự chống đối. sắp xếp theo thứ tự quy lật là: “ Xuôi chiều tương sinh, cách một tương khắc”. Thuận chiểu kim đong hổ là tương sinh tương khắc xuôi chiều vả ngược lụi, Tức là Thủy, Mộc, Hồa, Thổ, Kim tương sinh cùng chiếu: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa,,. Cách một tương khắc tức là: Thủy khắc Hỏa, Mộc khắc Thổ… Cho đến Kim khắc Mộc lại vòng trở lại.

Tại sao lại cách một tương khắc, cổ nhân cho rằng: nước có thể diệt lửa; lửa có thể nấu chảy kim loại; kim loại có thể chặt cây; cây có thể xuyên thủng đất; đất có thế ngăn nước.

“ Bốn mùa nãm hướng” là chỉ cái gì?

Bốn mùa trong năm và năm phương hướng đó là quan niệm không gian, thòi gian của người xưa. Nhà Nho lấy đạo đức ngũ thương phôi hợp với bôn mùa năm hướng.

Mùa Xuân có đức của phương Đông chủ về đức Nhân.

Mùa Hạ cố đức của phương Nam chủ về đức Lễ.

Mùa Thu có đức cua phương Tây chủ vê đức Nghĩa.

Mùa Đông có đức của phương Bắc chủ về đức Trí.

Bốn mùa có đức của trung tâm chủ về đức Tín.

Bốn mùa và ngũ hành có quan hộ gì?

Bốn mùa và năm hiện tượng ‘Vượng, tướng, hưu, ngục, tử” của Ngũ hành có quan hệ mật thiết. Vượng có nghĩa là thịnh vượng, Tương là tiếp theo có ý phụ tá, Hưu tức là nghỉ ngơi dừng lại, Ngục có nghía là suy nhược trỏ ngại, Tử có nghĩ là bị khắc chế không còn sức sông. Nói tóm lại, đương lệnh là vượng, mình sinh ra là tướng, sinh ra mình là hưu, chống lại mình là ngục, mình chống lại là chết. Cũng có thể nói mỗi mùa trong năm đểu có một trong Ngũ hành ử vào vị trí vượng tức là thịnh vượng, một ở vào tướng ở vào vị trí tịếp theo, một ố vào hưu tức ỉà nghỉ ngơi, một ơ vào ngục tức là suv tàn, một ơ vào tử tức là hết sinh khí.

Quan hệ giữa bốn mùa và ngũ hành cụ thể như sau:

Mùa xuân muôn loài cây cối mọc lên nên mộc làm đương lệnh là

vượng, thuộc can chi là: Giáp, At, Dần, Mão, Thìn. Tương sinh với mộc là hoa nên hỏa trong mùa xuân là tướng. Sinh ra mộc là thủy nên thủy trong mùa xuân là “hưu”, chông lại mộc là kim, kim trong mùa xuân là ngục, bị mộc khắc là thổ nên trong mùa xuân t hổ thuộc tử.

Mùa hè hà mùa lưu hoả, vượng hoả, thuộc can chi là Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, Mùi. Hoả sinh thô cho nên thổ trong mùa hè là tướng. Mộc

sinh hoả nên mùa hè mộc thuộc “hưu”. Thuỷ khắc hoả, mùa hè thụỷ thuộc “ngục”. Kim khắc hoa nên mùa hè kim thuộc “tử”.

Mùa thu là mùa kim hoàng thu hoạch nên vượng kim, thuộc can chi là Canh, Tân, Thân, Dậu, Tuất. Kim sinh thuỷ nên mùa thu thuỷ thuộc “tướng”. Thổ sinh kim nên mùa thu thố thuộc “hưu”. Hoả khắc kim nên mùa thu hoả thuộc “ngục”. Mùa thu mộc thuộc “tử”.

Mùa đông là mùa lạnh giá nên vượng thuỷ, thuộc can chi hà Nhầm, Quý, Hợi, Tý, Sửu. Thuỷ sinh mộc nên mùa đông mộc thuộc “tướng”. Kim sinh thuỷ, nên mùa đông kim thuộc “tướng”. Thổ khắc thuỷ nên mùa đông tho thuộc “ngục”. Thuỷ khắc hoả nên mùa đông hoả thuộc “tử”.

Quan hệ giữa Ngũ hành và Phướng vị như thê nào?

Quan hệ giữa Ngũ hành và Phương vị như sau:

Mộc: tính thích ấm áp, hướng theo mặt trời mà phương đông là nơi mặt trời mọc nên phương vị của mộc thuộc phương đông.

Hòa: tính nóng bốc lên nên thuộc phương nam.

Kim: tính ưa lạnh lẽo thuộc phương tây.

Thủy: tính lạnh hợp vối phương bác đầy báng giá.

Thô’: tính hồn hậu có lợi cho muỏn vật phát triển thuộc phương tây, vị trí ỏ trung tâm.

Thế nào là “Phương pháp ngũ ãm tương tác”?

Phương pháp ngũ âm tương tác là: Cách phôi hợp giữa năm âm vực cổ đại và cơ sỏ lý luận sinh khắc trong ngũ hành. Trên thực tế phương pháp này là một kiểu xem nhà thịnh hành ở thời Hán. Trong sách “Hậu Hán thư” có ghi: “Xem nhà có tám cách, lấy lục giập làm tên. lấy âm vực để phản biệt. Kiểu nhà chia theo ngũ ám, tên họ chia theo ngũ thanh. Giữa nhà và họ không hợp thì tật bệnh, tử vong, tai họa phát sinh.”

Trong phương pháp xem nhà bàng ngũ âm tên họ của chủ nhà được đọc lên theo 5 âm vực, phân biệt như sau: Nếu họ đó phát âm ỏ lưỡi là họ âm trủy, ố lợi là họ âm thương, ơ ráng là họ âm đốc, ỏ họng là họ âm cung, ơ môi là họ am vũ.

Quan hệ đối ứng giữa Ngũ hành và Ngũ âm như thế nào?

Đối ứng giữa ngũ âm và ngũ hành là:

Âm t.hương thuộc Kim, phương vị thuộc phương Tây.

Âm chủy thuộc Hỏa, phương vị thuộc phương Nam.

Âm dốc thuộc Mộc, phương vị thuộc phương Đông.

Âm cung thuộc Thổ, phương vị thuộc phương Trung tâm.

Âm vũ thuộc Thủy, phương vị thuộc phương Bắc.

  1. Phân biệt Ngũ hành của mười hai dịa chi như thê’ nào ?

Để miêu tả mười hai hình tướng của mười hai địa chi cũng phân ra âm và dương. Điều này bắt nguồn từ sô’ lẻ là dương sô’ chẵn là âm. Âm dương chi là ký hiệu biểu thị hai loại khi trường khốc nhau. Người xưa phát hiện thấy:

Chuột có 5 móng, 5 là số dương nên Tý là dương.

Trâu có 2 móng, 2 là sô âm nên Sửu là âm.

Hồ có 5 vuốt, 5 là số dương nên Dần là dương.

Thỏ có 2 môi, 2 là số âm nên Mão là âm.

Rồng có 5 móng, 5 là sô’ dương nên Thìn là dương .

Rắn có 2 lưỡi nên Tỵ là âm.

Ngựa móng tròn nửa âm nửa dương, Ngoài âm trong dương nên Ngọ là dương.

Dê có 2 sườn nên Mùi là âm.

Khỉ có 5 móng nên Thân là dương.

Gà có 4 móng nến Dáu là âm.

Chó có 5 móng nên Tuất là dương.

Lợn có 2 móng nên Hợi là âm.

Mười hai địa chi chia thành hai nhóm là: Dương gồm: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thản, Tuất. Âm gồm: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.

Chung ta đểu biêt quan hệ sinh khắc giữa ngũ hành kim, mộc thủy, thỏa, thố là một quy luật vĩnh hằng không đổi của vũ trụ. Mười hai địa chi cũng được chia ra theo ngũ hành. Quan hệ giữa mười hai địa chi và ngũ hành là: Dần, Mão, Thìn, thuộc mộc đại diện phương Đông; Tỵ, Ngọ, Mùi thuộc hỏa đại diện phương Nam; Thân, Dậu, Tuất thuộc kim đại diện phương Tây; Hợi, Tý, Sửu thuộc thủy đại diện phương Bắc.

Trong dó Dần là dương mộc, Mão là âm mộc; Thìn tuất lả dương thổ; Sửu Mùi là ám thổ; Ngo là dương hỏa; Tỵ là ảm hỏa; Thân là dương kim; Dậu là âm kim; Tý là dương thủy; Hợi là âm thủy.

Quan hệ giữa mười hai địa chi và bốn mùa năm hướng như thế nào?

Mười hai địa chi dại biểu cho bốn mùa và năm hưóng là:

Ngọ), vị trí ở phương Nam.Hợi. Mão mộc: mùa xuân (tháng Dần, Măo), VỊ trí ỏ phương Đông. Tỵ, Ngọ hỏa: mùa hạ (tháng Tỵ,

Thân, Dậu kim: mùa thu (tháng Thân, Dậu), vị trí ồ phương Tây.

Tý, Hợi thủy: mùa đông (tháng Tý, Hợi), vị trí ở phương Bắc.

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thổ: thuộc tứ quý (tháng Thìn, Tuất, Sửu,

Mùi). Vị trí ở Trung tâm.

Tin tức liên quan

  1. Trang Trí Nội Thất Cho Căn Phòng Như Thế Nào

  2. Sẵn sàng chịu thất bại.

  3. Phái lý khí trong thời Minh – Thanh có những tác phẩm nào?

  4. Những đồ trang trí phòng khách cho không gian Việt

  5. Sự ngăn chặn của huyền quan có tác dụng gì?

  6. Sự kết hợp giữa phong cách Art Deco cổ điển và phong cách thiết kế hiện đại

  7. Những tác phẩm nào đật nền móng cho sự phát triển của Phong thủy học?

  8. Tủ kệ tivi giá rẻ Gia Khánh

  9. Nhà nên có hồ tắm, hồ nuôi cá hay không?

  10. Bình thụ mạch trong phong thuỷ học là gì?

  11. Xuyên cung cửu tinh là gì?

  12. Thiết kế nhà nhỏ đầy màu sắc

  13. Cải tạo không gian căn nhà như thế nào?

  14. Tại sao dưỡng sinh tháng Mười một phải trọng giữ ấm?

  15. Tan É kim tam bàn” của la bàn đại diện cái gì?

Sản phẩm hot

  1. SOFA DA NÂU BÒ 2 BĂNG GÓC TRÁI MÃ 9193B-SF

  2. GHẾ SOFA NỈ NANO CHỐNG THẤM PHÒNG KHÁCH ÊM ÁI MR820A-SF

  3. KỆ TI VI ĐA NĂNG PHÒNG KHÁCH HĐ965K

  4. Ghế ăn da cao cấp màu đen Z6657

  5. SOFA NÂU CAFE HIỆN ĐẠI 2 BĂNG GÓC PHẢI MÃ 9026SF

  6. Bộ tủ rượu với quầy bar A620BG

  7. Tab đầu giường tân cổ điển BH98-A

  8. bàn ăn mặt đá vân nâu T0502023-1

  9. Bàn ăn mặt kính nâu T0517073-1

  10. ĐÔN HOA TÂN CỔ ĐIỂN H8803DH

  11. Giường ngủ 1m8 x 2m phong cách Pháp 8801A

  12. SOFA HIỆN ĐẠI 2 BĂNG GÓC TRÁI MÃ H60SF2GT

  13. Sofa da màu vàng 2 băng góc phải 9021V

  14. Bàn học góc kết hợp giá sách 912S63

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Địa chỉ siêu thị showroom nội thất gia khánh diện tích 5000m2 lớn nhất Hà Nội