12 địa chi sơn trong Tam hợp bàn

Phân châm, nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại, là toạ độ. Muốn xác định toạ độ, đương nhiên phải dùng La bàn. La bàn đại thể chia làm hai loại: Tam hợp bàn và quái bàn. Tam hợp bàn là Vi bàn, tương truyền do Dương Quân Tùng chê tạo. Quái bàn là Dịch bàn, cũng vốn do Dương Quân Tùng chê ra, sau đến đời Minh, được Tưởng Đại Hồng thêm bớt, nên người đời sau gọi là Tưởng bàn. Do cách sử dụng hai loại La bàn trên không giống nhau nên pháp sư về sau đem gộp làm một, gọi là Vi Dịch đồng tham bàn, để người mới học cũng có thể tham khảo sử dụng.

Phân châm là do kim chỉ nam trong La bàn vốn xác định hướng Nam Bắc, sau đó 8 phương 24 hướng đều có định vị. Toạ và hướng của phân châm đều lấy 64 quẻ Tiên thiên làm cãn bản chỉ toạ độ, chứ không lấy 64 quẻ Hậu thiên làm tiêu chuẩn, bởi vì Tiên thiên là Thể, Hậu thiên là Dụng. Phân châm là giới hạn từ trường để xác định cát hung, trong đó phân châm có tuyên khả lập (đường có thê xác lập) và có tuyên bất khả lập. Tuyến khả lập nghĩa là được khí quẻ thuần tuý, không pha tạp với quẻ khác, không phạm Không Vong, Sai Thố, nếu lập thì sè vượng phát cho người và của. Tuyến bất khả lập là tuyến Không Vong, Sai Thố. Tuyên Không Vong chia ra Đại Không Vong và Tiểu Không Vong. Đại Không Vong là đường phân giới giừa quẻ này với quẻ khác, hoặc là kẽ hở giữa hai quẻ. còn Tiểu Không Vong là đường phân giới 24 sơn. Tuyên Sai Thố là đường phân giới trong bổn quái (quẻ). Phạm vào tuyên bất khả lập thì sẽ chết người hoặc tuyệt tự. cần nhớ kỹ điểu này. Trong phân châm thê nào là hợp tuyên pháp? Nhiều người sê hoài nghi: “Tuyên chang qua chỉ là một đường vạch trong phương vị, sao lại phân biệt cát hung?”.

Thực ra, muốn biết tuyên pháp có hợp hay không, phải xem động khẩu của ngôi nhà bạn ở phương nào, lai long khứ thuỷ của một phần ở phương nào, lấy ghép lập Tam nguyên làm tiêu chuẩn, ví dụ Nhân nguyên lập hướng Địa nguyên. Dương Trạch thì lấy động khẩu của đường phố làm tiêu chuẩn lập hướng. Như động khẩu phương ất là cửa gần nhất của ngôi nhà, thì xem ất là Nguyên nào, ất là Âm khẩu của Nhân nguyên, nên lập Dương hướng của Dần sơn Thân hướng Nhân nguyên, gọi là âm khẩu phối với Dương hướng Dương khẩu phối với Âm hướng, để âm dương gặp nhau mà tạo nên Phúc Lộc Vĩnh Trinh như “Thanh Nang Kinh” đã viết. Nêu an táng, thì phải xem Lai long hợp với sơn, khứ thuỷ hợp với hướng, ví dụ, có Tuất long nhập thủ, Mùi thuỷ chảy đi, lai long khứ thuỷ đều là Âm của Địa nguyên, vậy nên lập Dương hướng Địa nguyên, để hợp tuyên pháp, có thể lập thuỷ chảy đi, lai long khứ thuỷ đều là Âm của Địa nguyên, vậy nên lập Dương hướng Địa nguyên, để hợp tuyên pháp, có thể lập Canh sơn Giáp hướng, vận 6 sẽ phát mạnh.

12 địa chi sơn trong Tam hợp bàn, mồi sơn có 5 giáp tý, khi nạp âm thì ngũ hành của mỗi Hoa giáp sẽ khác nhau (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Như Tý sơn có Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý. 12 sơn cộng lại có 60 Giáp Tý, còn gọi là 60 Thấu địa long, hoặc Ngũ Tý khí. Phép lập hướng phải tính tiết chê bớt khí quá vượng và bổ xung cho khí quá yêu như Dậu sơn Mão hướng. Vi Dậu là ở vận 7 là hướng do đáo sơn đáo hướng nên không tái lập tuyến hướng. Tân Dậu, gọi là đế bổ tiết Long nhập thủ. Tuyên phân giới 24 tiết khí không nên lập. Phàm việc lập phân châm, các tuyên dọc trên La Bàn đều là tuyến hung, như đường phân giới 64 quẻ, đường phân giới 64 Thấu địa long. Lập phân châm thì quý là ở chồ hợp với Nguyên Long, động khẩu thành quẻ thuần túy, không lẫn với quẻ khác. Phân châm theo Huyển Không học không quy định pháp độ, mà tuỳ vào nguyên và vận, chỉ cốt được quẻ thuần tuý. Lập hướng trước tiên xem hướng của thiên nhiên hình cục là gì, sau đó xem kỹ hướng ấy ở vận nào là vượng nhất, nêu không hợp với đương vận thì bỏ, hoặc phải tránh sát (Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát).

“Thiên bảo Kinh” viết: “Âm Dương Phụ Mầu tìm cho kỹ, biết được đáng giá ngàn vàng…”. Nói phụ mầu tức là Trung Khí của Bát Quái, còn Tử Tức là Bàng Khí. Như quẻ Khảm có ba sơn Nhâm Tý Quý, Tý là phụ mầu, Quý là Thuận Tử, Nhâm là Nghịch Tức.

Tý Ngọ Mão Dậu, càn Khôn cấn Tốn là Phụ Mầu, Nhâm Bính Giáp Canh, Thìn Tuất Sửu Mùi là Nghịch Tức. ất Tân Đinh Quý,

Dần Thân Tỵ Hợi là Thuận Tử. Long lực của Phụ Mầu thịnh vượng có thê đi một mình hoặc kiêm Thuận Tử: có khí nghịch tới thì Long lực tương đối thịnh, chỉ có thể đi một mình chứ không được kiêm Thuận Tử, càng không thể kiêm Phụ Mầu. Nêu kiêm Thuận Tử là rơi vào tình huống Quá quái (qua quẻ), hoạ sẽ ập tới. Nêu kiêm Phụ Mầu sê rơi vào tình huống sai lạc âm dương.

Phụ Mầu Tử Tức đểu cần là quẻ thuần tuý. Trung hào (hào giữa) của mỗi quẻ là Phụ Mầu, Phụ Mầu của mồi quẻ khác cùng một nguyên là huynh đệ. Hào bên cạnh là Tử Tức của Huynh Đệ. Như vận 7, 8, 9 của hạ nguyên. Quẻ Đoài vận 7 lấy Dậu là Phụ Mầu,

Canh Tân là hai hào bên cạnh. Canh là Nghịch Tức, Tân là Thuận Tử, thì cấn là Phụ Mầu của Huynh Đệ, Ngọ cũng vậy. Sửu Dần ở hai bên cấn và Bính Đinh ở hai bên Ngọ là Tử Tức và Huynh Đệ. Như thê nội trong Huynh Đệ đểu liền mạch, cốt nhục thân tình có thể dùng liền với nhau. Sơn thuỷ cục pháp lấy Nhập tục làm Phụ Mầu, tinh tú tám phương làm Tử Tức. Bình dương cục pháp lấy điểm giao thoa của Can Lưu làm Phụ Mầu, triều thuỷ của Chi Tân làm Tử Tức.

Các tiểu lộ đều phải chảy vể phương Nhất Nguyên Tam cát, thành một phương cốt nhục đoàn tụ. ví dụ, vận 7, trong phạm vi Dậu Mão kiêm Canh Giáp, quẻ cấn Ly, cần thu nạp hào Sửu, Bính làm Tử Tức, không được pha tạp với khí Tử Tức của Nhân nguyên Dần Đinh, Thiên nguyên vốn không được kiêm Địa nguyên, nhưng lai Long nhập thủ đă thành cục thê thiên nhiên, thuv lô tất ổn phải sang tả hoăc sang hữu, tóm lai phải quv về trong môt quẻ. Kinh có câu “Thiên cơ an ở trong, gia đình ngày.

 


Notice: WP_Query được gọi với một tham số đã bị loại bỏ kể từ phiên bản 3.1.0! Hãy sử dụng ignore_sticky_posts thay cho caller_get_posts (sẽ sớm bị loại bỏ) in /var/www/html/wp-includes/functions.php on line 4782
Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Địa chỉ siêu thị showroom nội thất gia khánh diện tích 5000m2 lớn nhất Hà Nội